Trường Đại học Thủy lợi (1)

Lịch sử phát triển


Trải qua 45 năm xây dựng và phát triển trường Đại học Thủy lợi đã phát triển qua các thời kỳ với những nét đặc trưng cơ bản sau...
More...

 

   Trải qua 45 năm xây dựng và phát triển trường Đại học Thủy lợi đã phát triển qua các thời kỳ với những nét đặc trưng cơ bản sau:

1. Giai đoạn 1959-1965         

Học viện Thuỷ lợi Điện lực được thành lập năm 1959 với 3 nhiệm vụ:
Đào tạo kỹ sư kỹ thuật viên và Nghiên cứu khoa học.
Năm 1959 khai giảng lớp chuyên tu đại học khoá 1 có 80 sinh viên tuyển sinh khoá 1 hệ chính quy với 100 sinh viên.
Năm 1961 Nhà trường tổ chức đào tạo tại chức ban đêm.
Tháng 6/1961 lớp Đại học Chuyên tu khoá 1 bảo vệ Đồ án tốt nghiệp.

Tháng 1/1963 chia tách học viện Thuỷ lợi Điện lực ra thành 4 đơn vị là Trung cấp điện Trung cấp Thuỷ lợi Viện Nghiên cứu khoa học Thuỷ lợi và Trường đại học Thuỷ lợi.

Tháng 7/1963 lớp chính quy khoá 1 bảo vệ thiết kế tốt nghiệp.

Năm 1964 chỉ tiêu tuyển sinh tăng lên đến hơn 340 sinh viên. Bước đầu hình thành 3 ngành đào tạo: Thuỷ công Thuỷ nông Thuỷ văn. Các phòng thí nghiệm được lắp đặt: Sức bền vật liệu Thuỷ lực Thuỷ công Thuỷ điện Cơ đất...
1965 nhà hành chính được xây dựng hoàn thành với nhiều phòng học và phòng thí nghiệm phục vụ giảng dạy.

2. Giai đoạn 1965-1975

Tháng 6/1965 trường sơ tán lên vùng núi xã Nghĩa Phương huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang. Các khoá 7 8 9 10 11 tập trung tại Lục Nam Trường làm lễ tốt nghiệp cho các khoá 5 6 7 với gần 1000 kỹ sư.

Ban chấp hành Đoàn cùng lãnh đạo Nhà trường tại nơi sơ tán (Lục Nam – Hà Bắc)

    1970 trở về Hà Nội năm 1972 Trường đi sơ tán lần thứ 2 tại Việt Yên Hiệp Hoà tỉnh Bắc Giang và một số nơi khác. Khoá 14 được tập trung tại Việt Yên và Hiệp Hoà.

Quy mô tuyển sinh 300-400 sinh viên mỗi khoá.

Ngoài các ngành Thuỷ công Thuỷ nông Thuỷ văn nhà trường đã mở thêm một số ngành mới:

Năm 1965 mở ngành Thuỷ điện (khoá 7).
Năm 1966 mở thêm ngành Cơ khí Thuỷ lợi (khoá 8).
Năm 1967 mở thêm ngành Thi công (khoá 9).
Hình thức đào tạo tại chức được mở rộng tuyển sinh hàng năm 100 sinh viên.

3. Giai đoạn 1975-1985

Trường đã sắp xếp tổ chức lại ngành nghề đào tạo theo hướng diện rộng chuyên môn hoá hợp lý bao gồm:

+ Công trình Thuỷ lợi
+ Thuỷ văn và kỹ thuật môi trường
+ Thuỷ năng và Trạm Thuỷ điện
+ Thuỷ nông và Cải tạo đất
+ Cơ khí Thuỷ lợi
+ Kinh tế Thuỷ lợi.

Tháng 6/1984 Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp đã ra Quyết định chính thức phê duyệt chương trình đào tạo được điều chỉnh và thực hiện từ năm 1984.

Những năm 80 do tác động của xã hội chỉ tiêu tuyển sinh hệ chính quy giảm thí sinh thi vào trường ít; nhưng trường đã phát triển số lượng sinh viên hệ tại chức; ngoài đào tạo tại chức tại cơ sở chính của trường trường đã tổ chức mở các lớp tại chức tại các địa phương.

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm Trường và nghe Nhà giáo Anh hùng Lao động Nguyễn Như Khuê báo cáo tại Hội nghị Khoa học kỷ niệm 20 năm thành lập Trường

    Đây là thời kỳ thực hiện công tác kết hợp giảng dạy học tập và NCKH & PVSX trong phạm vi cả nước là bước ngoặt quan trọng của Trường Đại học Thuỷ lợi. Trường đã thành lập các đoàn ĐH1 ở thành phố Hồ Chí Minh ĐH2 ở các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên ĐH3 ở thành phố Cần Thơ với hàng trăm lượt sinh viên năm cuối cùng các giáo viên phục vụ điều tra đánh giá quy họach khai thác sử dụng tổng hợp và quản lý tài nguyên nước cho các tỉnh phía Nam. Đẩy mạnh công tác hoàn chỉnh đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phục vụ công tác thuỷ lợi ở phía Bắc.  

     Trường đã mở các lớp bồi dưỡng sau đại học về Cơ học công trình Kỹ thuật và tổ chức thi công Chỉnh trị sông Thuỷ lực thuỷ văn Quản lý kinh tế... ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.   

Năm 1979 Trường được chính thức công nhận là một cơ sở đào tạo Sau đại học. Sự kiện này đánh dấu một bước chuyển biến mới về chất trong nhà trường. Hoạt động chủ yếu của đào tạo sau đại học trong thời kỳ này là đào tạo Phó tiến sĩ (PTS) đến năm 1984 đã có 6 người bảo vệ thành công luận án PTS.

Đây cũng là giai đoạn Nhà trường phát triển mối quan hệ những mối quan hệ quốc tế có hiệu quả với nhiều trường ở Liên Xô (cũ) với các nước Đông Âu Lào Ấn độ Hà Lan...  

4. Giai đoạn 1985 đến nay

Đây là giai đoạn có nhiều hoạt động cho việc đổi mới sự nghiệp giáo dục Nhà trường đã đạt được một số kết quả:

Đổi mới mục tiêu chương trình đào tạo của nhà trường được dựa trên cơ sở nắm bắt kịp thời những đổi mới về nhận thức đối tương phục vụ. Khái niệm về thuỷ lợi được chuyển dần sang khái niệm khai thác tài nguyên nước với nội dung phục vụ đa dạng tổng hợp hơn và mang tính liên ngành ngoài các ngành đã có như Thuỷ nông Thuỷ công Thuỷ văn Thuỷ điện mà còn Môi trường Cải tạo đất Kinh tế Máy xây dựng và Thiết bị Thuỷ lợi Thuỷ điện ... Từ năm 1985 mục tiêu đào tạo cơ cấu ngành nghề đã được mở rộng và ngày càng hoàn thiện với 7 ngành 9 chuyên ngành.

Năm 1995 với việc sát nhập 3 Bộ: Bộ Nông nghiệp Bộ Lâm nghiệp Bộ Thuỷ lợi đã đưa sự nghiệp phát triển thuỷ lợi nước ta ở một tầm cao mới: Phát triển bến vững trong một môi trường Đất - Nước - Rừng gắn kết hữu cơ với nhau trong một nền nông nghiệp sinh thái. Trường Đại học Thuỷ lợi đã xây dựng chương trình trình hai Bộ duyệt 9 ngành 20 chuyên ngành nhằm phủ kín nội dung hoạt động về kỹ thuật tài nguyên nước ở nước ta. Dù là một trường chuyên ngành nhưng việc đào tạo của nhà trường đã đang bắt đầu mang tính liên ngành đa lĩnh vực.

Trường đã thành lập các khoa mới: Công nghệ thông tin; Mác -Lê-Nin và Kỹ thuật bờ biển. đến nay trường đã có các khoa:

1. Công trình thuỷ lợi
2. Thuỷ văn - Môi trường
3. Quy hoạch và quản lý hệ thống công trình
4. Thuỷ điện
5. Kinh tế thuỷ lợi
6. Máy xây dựng và thiét bị thuỷ lợi
7. Công nghệ thông tin
8. Kỹ thuật bờ biển
9. Mác - Lê -Nin
10. Khoa Sau đại học
11. Khoa Tại chức.

Cơ cấu ngành nghề của trường ngày càng phát triển năm 2004 nhà trường đã ban hành chương trình đào tạo của 9 ngành với 19 chuyên ngành với tổng số giờ là 270 ĐVHT:

1. Công trình Thuỷ lợi
    a. Công trình Thuỷ lợi
    b. Địa kỹ thuật
2. Thuỷ văn - Môi trường
    a.Thuỷ văn và tài nguyên nước
    b. Chỉnh trị sông và bờ biển
    c. Môi trường và quản lý lưu vực
3. Quy hoạch và quản lý hệ thống công trình
    a. Quy hoạch và quản lý hệ thống công trình
    b. Thuỷ lợi cải tạo đất
4. Thuỷ điện
    a. Công trình Thuỷ điện
    b. Quản lý vận hành CTTĐ
5. Kinh tế thuỷ lợi
    a. Kinh tế xây dựng
    b. Kinh tế quản lý khai thác công trình thuỷ lợi
    c. Kinh tế quản lý tài nguyên nước & môi trường
6. Máy xây dựng và thiết bị thuỷ lợi
    a. Máy xây dựng
    b. Thiết bị thuỷ lợi-thuỷ điện
    c. Cơ điện
7. Kỹ thuật bờ biển
    a. Công trình bờ biển
    b. Quản lý tổng hợp vùng bờ
8. Công nghệ thông tin
9. Kỹ thuật cơ sở hạ tầng
10. Cấp thoát nước.

 Công tác hợp tác quốc tế được phát triển mạnh và rộng khắp. Ngoài quan hệ hợp tác truyền thống với các trường ở Liên Xô (cũ) các nước Đông Âu... nhà trường còn hợp tác với nhiều trường đại học và các tổ chức của nước ngoài khác như Mỹ Canađa Anh Pháp Đức Hà Lan Nauy Ấn độ AIT Australia Israel Nhật Hàn quốc Cộng đồng Châu Âu Uỷ ban sông Mekong và một số tổ chức phi chính phủ.
 

GS. TS. Đào Xuân Học phát biểu tại hội nghị Nâng cao chất lượng hoạt động KHCN (2003)

    Quy mô tuyển sinh đại học ngày càng tăng năm 2001 tuyển sinh 1042 sinh viên chính quy và 434 không chính quy năm 2003 tuyển sinh 1184 sinh viên chính quy và 490 sinh viên không chính quy năm học 2004-2005 nhà trường đã tuyển sinh trên 1.200 sinh viên chính quy và trên 600 sinh viên tại chức hệ cử tuyển 40 sinh viên 150 hệ cao đẳng. Đào tạo chính quy hệ cao đẳng tại Trường Đại học Thuỷ lợi ở Hà Nội và cơ sở 2 của Trường tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đào tạo tại chức tại trường Đại học Thuỷ lợi cơ sở 2 của trường ở thành phố Hồ Chí MInh Trung tâm ĐH2 tại tỉnh Ninh thuận và nhiều địa phương trong cả nứơc. Năm 2004 Tổng số sinh viên đại học là 8004 người (chính quy là 5412 người hệ tại chức là 2440 người hệ cử tuyển là 152 người) sinh viên hệ cao đẳng 386 người.


Nguồn:http://www.wru.edu.vn/Gioithieu/Web/Content.aspx?distid=152