Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: BMP-1

Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: BMP-1
22.01.2008 19:59

 
Bronevaya Maschina Piekhota (BMP-1) được sản xuất lần đầu vaò đầu những năm 1960 và ra mắt vào năm 1967 tại cuộc duyệt binh trên Quảng trường Đỏ.

BMP-1 đánh dấu 1 sự thay đổi quan trọng từ khái niệm xe bọc thép (Armored Personnel Carrier) thành Xe chiến đấu bộ binh(chiến xa bộ binh) phối hợp giưã tính cơ động cao vũ khí chống tăng hiệu quả và giáp bảo vệ nhằm mục đích vận chuyển bộ binh.BMP-1 có kích thước nhỏ hơn đáng kể so với các loại xe bọc thép(APC) cuả phương Tây nhưng trang bị hoả lực lại mạnh hơn. BMP-1 được cách tân cho phép lính bộ binh có thể bắn bằng vũ khí cá nhân cuả họ từ bên trong xe tăng qua các lỗ châu mai điều này sẽ giúp họ có thể chiến đấu từ bên trong xe với giáp bảo vệ an toàn.Để làm được điều này các lỗ châu mai và kính tiềm vọng đều được thiết kế cho từng binh sĩ trong xe. BMP-1 trở thành Chiến xa bộ binh đầu tiên trên thế giới nó có thể chở theo bộ binh từ 3 đến 8 người.BMP-1 thay thế các xe thiết giáp BTR-50P và bổ sung cho các xe thiết giáp BTR-60PB trong những đơn vị bộ binh cơ giới chủ lực.



Xe BMP-1 của Việt Nam trong một buổi diễu binh

Sự phối hợp giữa hoả lực chống tăng hiệu quả độ cơ động cao giáp bảo vệ tương xứng BMP-1 đã trở thành 1 thứ vũ khí lợi hại cho bộ binh Liên Xô.Được thiết kế để đáp ứng nhu cầu tấn công nhanh trong thời đại chiến tranh hạt nhân súng chính 73mm loại 2A20 với 40 viên bắn đạn HEAT có liều phóng hỗ trợ(loại đản mà RPG-7 sử dụng) có tầm bắn tối đa 7000 ft tầm bắn hiệu quả cuả nó khoảng 800m( có thể tiêu diệt xe tăng ở khoan3g cách tới 1300m) và đượ ctrang bị hệ thống nạp đạn tự động.Hệ thống vũ khí chính cuả BMP-1 cũng khác thường có thể bắn chung loại đạn cuả súng chống tăng RPG-7 bệ phóng tên lưả chống tăng AT-3 Sagger gắn trên súng chính để tăng thêm khả năng diệt tăng (tới 3000m)
BMP-1 có đầy đủ tính năng cuả 1 Xe chiến đấu bộ binh lội nước với thân xe thấp mũi xe nghiêng như mũi thuyền.Tháp pháp hình chóp cụt đặt ở giưã thân xe được gắn 1 súng chính 73mm nòng trơn và 1 đại liên7 62mm đồng trục và 1 bệ phóng tên lưả chống tăng AT-3 Sagger ngay phiá trên súng chính. Động cơ 6 xi-lanh Diesel làm mát bằng nước có công suất 290 mã lực đặt ở bên phải trước thân xe.Cưả dành cho lái xe nằm ở bên trái thân trước đèn nhìn đêm IR gắn ở trên nóc tháp pháo phiá trước cưả dành cho xa trưởng. Phiá sau thân xe có 4 cưả nhỏ ở trên sàn khoang chở lính và có 2 cưả ra vào lớn ở sau đuôi xe.Có 4 lỗ châu mai ở mỗi bên sườn cuả khoang chở lính và 1 lỗ ở cưả ra vaò bên trái.BMP-1 chạy bằng xích có 6 bánh dẫn động giống như PT-76 nhưng có thêm 3 bánh đỡ xích.BMP-1 có khả năng lội nước bằng xích cuả nó thay vì lội bằng hệ thống đẩy phản lực nước như ở PT-76 có tốc độ và tầm hoạt động cần thiết để bắt kịp các loại xe tăng tốc độ nhanh mà nó đi theo trong đội hình tấn công.




Hỏa tiễn chống tăng trên BMP-1

Tổ lái cuả BMP-1 gồm 3 người bao gồm cả xa trưởng người mà sẽ trở thành chỉ huy nhóm bộ binh tác chiến khi họ rời khỏi xe.Với các lỗ châu mai và kính tiềm vọng ở 2 bên sườn xe lính bộ binh ngôì trong xe có thể bắn bằng các loại vũ khí cá nhân như AK trung liên PKM ngay cả trong khi di chuyễn thậm chí cả súng chống tăng RPG-7 RPG-16 và cả tên lưả vác vai SA-7 điều naỳ khiến cho BMP-1 gần như là 1 lô cốt di động. Xe có hệ thống bảo vệ NBC cho tổ lái và lính bộ binh giúp họ tác chiến mà ko bị ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài.
BMP-1 được trang bị đèn hồng ngọai tiềm vọng kính và thiết bị ngắm hồng ngoại để tác chiến ban đêm.BMP-1 có tính năng tạo khói mù bằng cách phun nhiên liệu diesel vào buồng thải khói.

Tuy nhiên tính chất dễ bị tổn thương cuả BMP-1 thể hiện qua cuộc chiến tranh ở Trung Đông năm 1973 đã gây ra nhiều tranh cãi trong quân đội Liên Xô về vấn đề :" BMP-1 nên được sử dụng như thế nào trong trận chiến?". BMP-1 có giáp bảo vệ tương đối mỏng( dày nhất 19mm ở thân xe và 23mm ở tháp pháo) có thể đủ sức bảo vệ xe trước đạn xuyên giáp chống cơ giới cỡ 12 7mm ( chỉ với chỗ giáp có độ nghiêng trên 60 độ) nhưng BMP-1 lại dễ bị tổn thương trước tên lưả chống tăng và hoả lực xe tăng cuả đối phương. Sự bố trí cuả các vị trí nguy hiểm như buồng đạn buồng nhiên liệu khoang động cơ hay khoang chở lính đều ko an toàn trước sự xuyên phá cuả vũ khí chống tăng.

Vì thiết kế giới hạn trong việc hạ thấp súng chính nên BMP-1 khó khăn khi bắn tiả từ vị trí cao mà phải lộ toàn thân ra để chiến đấu điều này làm BMP-1 dễ dàng trở thành mục tiêu nhắm bắn cuả đối phương.

BMP-1 có thể đạn đến vận tốc tối đa cuả nó là 70km/h nhưng chỉ trong khoảng thời gian ngắn do độ dằn xóc quá cao và hệ thống truyền động ko thể đáp ứng được.Do hệ thống nạp đạn tự động quá phức tạp và thiếu ổn định nên BMP-1 ko thể bắn khi đang chạy trên điạ hình gồ ghề. BMP-1 phải đứng yên khi bắn tên lưả AT-3 Sagger AT-3 Sagger rất khó nạp đạn và hoàn toan2 ko thể nạp đạn trong tình trạng bảo vệ NBC.

Nhìn chung BMP-1 là xe chiến đấu bộ binh đầu tiên nên nó vẫn còn 1 số khuyết điểm và vẫn thưà hưởng những hạn chế cuả dòng tăng Liên Xô tuy nhiên nó vẫn là 1 thứ vũ khí đáng tin cậy cua bộ binh trên chiến trường và được rất nhiều quốc gia sử dụng.Tham gia nhiều cuộc chiến tranh:

1973 CHiến tranh Yom Kippur( Israel+ các nước Ả Rập)
1975-2000 Nội chiến Angola
1979-1988 Chiến tranh cuả Liên Xô tại Afghanistan
1980-1988 Chiến tranh Iran-Iraq
1990-1991 Chiến tranh vùng Vịnh
1991-2001 chiến tranh Nam Tư
1994-1996 Chiến tranh Chechen lần 1
1999- Chiến tranh Chechen lần 2
2001- Chiến tranh cuả Mỹ tại Afghanistan
2003- Chiến tranh Iraq
Hiện nay Quân đội Nhân dân Việt Nam có khoảng 300 chiếc BMP-1

THÔNG SỐ KỸ THUẬT
Loại: Xe chiến đấu bộ binh
Nước SX: Liên Xô
Nặng 13.5 tấn
14.7 tấn với BMP-1P[1]
Dài: 6.74m
Rộng: 2.94 m
Cao: 2.15 m
Tổ lái: 3 (Xa trưởng lái xe xạ thủ) (+8 lính bộ binh)
Giáp: Dày nhất 19mm ở thân xe và 23-40mm ở tháp pháo
Vũ khí:Súng chính73 mm 2A28 Grom nòng trơn (40 viên)
Đại liên đồng trục 7 62mm
Tên lưả chống tăng 9M14 Malyutka (AT-3 Sagger) BMP-1
9M111 Fagot (AT-4 Spigot) 9M111-2 Fagot (AT-4B Spigot B) 9M113 Konkurs (AT-5 Spandrel) tuỳ theo phiên bản
Động cơ:UTD-20 6-xilanh diesel làm mát bằng nước
290-300 mã lực
Tầm hoạt động:600km
TỐc độ: 65-70km/h trên đường nhưạ
45km/h trên đường gồ ghề
7km/h dưới nước

Nguồn: Vietnam Defence Millitary Technology and News _ Diễn đàn Khoa học Kỹ thuật Quân sự và Quốc phòng