Binh chủng Tăng thiết giáp đón nhận Huân chương Sao vàng

By phuctrinh

Binh chủng Tăng thiết giáp đón nhận Huân chương Sao vàng

(VOV) - Đây là sự ghi nhận những đóng góp to lớn của Binh chủng Tăng thiết giáp vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.  


Sáng nay (4/10) tại Vĩnh Phúc Binh chủng Tăng thiết giáp tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 50 năm ngày truyền thống lực lượng (5/10/1959- 5/10/2009) và đón nhận Huân chương Sao vàng. Tới dự lễ kỷ niệm có Đại tướng Phùng Quang Thanh Uỷ viên Bộ Chính trị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Giáo sư Tiến sĩ Vũ Văn Hiền Uỷ viên Trung ương Đảng Tổng Giám đốc Đài TNVN- đơn vị kết nghĩa với Binh chủng Tăng- Thiết giáp; Trịnh Đình Dũng Uỷ viên Trung ương Đảng Bí thư tỉnh uỷ Vĩnh Phúc các đại biểu đại diện cho các cơ quan Bộ Quốc phòng Bộ Tổng tham mưu Tổng cục Chính trị các quân khu quân đoàn quân chủng và lãnh đạo chính quyền địa phương và các cán bộ lão thành cựu chiến binh Mẹ Việt Nam anh hùng.

More...

50 năm Ngày truyền thống Binh chủng Tăng- Thiết giáp

By phuctrinh

50 năm Ngày truyền thống Binh chủng Tăng-Thiết giáp

(VOV) - Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh: Lịch sử truyền thống của bộ đội Tăng - Thiết giáp rất vẻ vang. Thành tích của bộ đội tăng- thiết giáp rất đáng tự hào  

Sáng 30/9 nhân kỷ niệm 50 năm Ngày truyền thống (5/10) và đón nhận Huân chương Sao Vàng Binh chủng Tăng - Thiết giáp Quân đội nhân dân Việt Nam vinh dự được đón Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh Bí thư Đảng uỷ Quân sự Trung ương về thăm.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã nghe Thiếu tướng Vũ Bá Đăng Tư lệnh Binh chủng báo cáo truyền thống và việc thực hiện nhiệm vụ của đơn vị; thăm khu kỹ thuật khu tăng gia tập trung và nơi ăn ở của bộ đội tại Trường Sĩ quan Tăng-Thiết giáp.

Tổng Bí thư đánh giá: Bộ đội Tăng - Thiết giáp là lực lượng đột kích quan trọng của bộ đội ta. Trải qua các chặng đường lịch sử Bộ đội Tăng - Thiết giáp đã thể hiện lòng trung thành vô hạn với Đảng Nhà nước và nhân dân. Truyền thống "Trung với Đảng hiếu với dân. Đã ra quân là đánh thắng" đã được ghi tạc vào lịch sử và đi vào lòng nhân dân như một niềm tự hào niềm tin vào sức mạnh chiến thắng của quân đội ta.

Phát huy thành tích và truyền thống này của bộ đội Tăng - Thiết giáp Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đề nghị Binh chủng

Ngày 5/10/1959 trung đoàn xe tăng đầu tiên mang phiên hiệu 202 gồm 202 đồng chí với 34 chiếc T34 và pháo tự hành được thành lập. Tháng 2/1968 bộ đội xe tăng lần đầu tiên tham gia chiến đấu tại Tà Mây- Làng Vây trong chiến dịch Đường 9- Khe Sanh.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đội hình gần 400 xe tăng thiết giáp đã dẫn đầu 5 hướng đồng loạt tiến công giải phóng Sài Gòn kết thúc thắng lợi hoàn toàn sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc ta./.
tiếp tục quán triệt đường lối nhiệm vụ chung nhiệm vụ quân sự quốc phòng an ninh trong tình hình mới xác định đúng vị trí vai trò và trách nhiệm chính trị ra sức phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao xây dựng đảng bộ trong sạch vững mạnh toàn diện đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tinh hình mới. Binh chủng phải thực hiện tốt kế hoạch sẵn sàng chiến đấu phòng chống "diễn biến hoà bình" không để bị động bất ngờ.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cũng khen ngợi sự tham gia của bộ đội Tăng - Thiết giáp nói riêng bộ đội và các lực lượng vũ trang nhân dân nói chung đã và đang tích cực tham gia vào việc cứu hộ kịp thời bảo vệ tính mạng tài sản của nhân dân và khắc phục hậu quả cơn bão số 9. Tổng Bí thư kêu gọi cả nước cùng chung sức để khắc phục những hậu quả nặng nề do thiên tai gây ra sớm ổn định cuộc sống cho nhân dân vùng bão lũ ở miền Trung và Tây Nguyên./.
 
Vũ Duy 
Nguồn: http://vovnews.vn/Home/50-nam-Ngay-truyen-thong-Binh-chung-TangThiet-giap/20099/123071.vov

More...

“Quê” ơi Trinh đây!

By phuctrinh

“Quê”ơi Trinh đây!
 
Nhận được comment của Nguyễn Khắc Nguyệt xúc động và vui mình chép lại vài dòng trao đổi giữa Nguyệt và Trinh để tìm đường gặp lại các quê và đồng đội tăng chúng mình.
 
Viết bởi Nguyễn Khắc Nguyệt:
05 June 2009 14:44

Xin chào quê Trinh!

Gọi như vậy chắc quê đoán ngay ra chúng ta là đồng đội cùng binh chủng Thép. Xin tự giới thiệu- mình là Nguyễn Khắc Nguyệt nguyên học viên khóa 2 (sau khóa các quê) của T600. Hôm nay tình cờ vào đây mình rất xúc động trước tình cảm và lòng tâm huyết của quê trước binh chủng nhà trường và đặc biệt là những đồng đội bà con xưa. Theo mình đây có lẽ là một đặc điểm chung của lính xe tăng đấy. Nhưng nghĩ cũng tội cho quê- khóa 1 ấy liên lạc với nhau hơi kém. Riêng khóa 2 bọn mình từ năm 89 đến nay cứ 5 năm một lần đại hội. Hôm 17.5 vừa rồi mới gặp nhau kỷ niệm 30 năm TN có 73 anh em về dự- trong đó có 3 chiến sĩ từ TPHCM ra đấy. Quê có nhớ Vương Đắc Long và Nguyễn Văn Dũng- lớp 2DK1 đá bóng rất hay ấy không? Bọn hắn cũng đang ở TPHCM đấy.
Mình không viết blog nhưng hiện nay trên mạng có một cuốn sách của mình. Nếu quê thích đọc thì có thể tìm qua google tên sách là "Hành trình đến dinh Độc Lập". Ngoài ra mình cũng có một tôpic trong "Quân sử Việt Nam" để tán gẫu và nhắc lại những kỷ niệm xưa.
Nếu thích quê có thể vào:
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=6189.0
hoặc http://www.quansuvn.net/index.php?topic=6345.0
 
Chúc quê và gia đình sức khỏe hạnh phúc và mọi sự tốt lành nhé!
 

Viết bởi Phạm Phúc Trinh:
06 June 2009 17:31
 
Chào Nguyệt
 
Trinh xúc động quá nghe tiếng "quê" mà bỗng thấy gai gai từ sống lưng rồi truyền lên óc. Muốn gọi ngay cho quê nhưng chưa có số điện thoại. Cám ơn những tâm tình những thông tin và những tấm ảnh mà quê cung cấp. Quê gửi 3 tấm hình mình đọc được cả 3 (quê gửi 4 lần 1 lần bị trùng). Soi từng tấm một. Không nhận được Long Dũng với cả 2 em nuôi. Có em nào rõ xinh chụp với các anh bên xe tăng cũng không nhận ra thế mới đau-sờ-cau chứ. Nói chung chỉ thấy thoáng một vài nét như thân như sơ trên những gương mặt cùng đội ngũ ngày nào. Ba mươi mấy năm rồi còn gì.
Trinh đã đọc một phần truyện ký "Hành trình đến dinh Độc lập" và "Những mảnh rời ký ức ...". Bạn cho phép mình đưa link các bài viết và ảnh của bạn lên blog của mình nhé để kết nối với đồng đội năm xưa.

Chúc quê và gia đình sức khỏe hạnh phúc.
 
Tạm biệt hẹn gặp quê và đồng đội.

PT

More...

Ảnh tư liệu về Lực lượng Tăng- Thiết giáp

By phuctrinh

Ảnh tư liệu về Lực lượng Tăng- Thiết giáp
(sưu tầm)

Ảnh 1:

Вождь желтокожих лидер вьетнамской революции Хо Ши Мин приветствует личный состав первой бронетанковой роты армии Северного Вьетнама стоя в кузове кабриолета повышенной проходимости ГАЗ-69. На вооружении роты состояли бронеавтомобили М8 и полугусеничные бронетранспортеры М3. Вся техника вооруженная штатными американскими пулеметами Браунинг М2 калибра 12 7 мм. Личный состав одет в танковые шлемофоны советского образца и вооружен пистолетами-пулеметами ППС-43.

Lãnh tụ của cách mạng Việt Nam- Hồ Chí Minh đứng trên xe chỉ huy dã chiến Gaz-69 duyệt chào cán bộ chiến sĩ thuộc đại đội thiết giáp đầu tiên của quân đội Miền Bắc Việt Nam. Khí tài của đại đội thiết giáp này gồm xe chiến đấu bọc thép M8 và xe chở quân bọc thép bán xích M3 được trang bị vũ khí chính là loại trọng liên Bờ-rao-ninh M2 cỡ nòng 12 7 ly của Mỹ. Các chiến sĩ đội mũ công tác gắn máy nội đàm của lính tăng Xô-viết và được trang bị súng tiểu liên PPS-43.




Ảnh 2:

Первый в армии ДРВ танковый полк - 202-й - был сформирован 5 октября 1959 г. На вооружении полка состояли танки Т-34-85 и самоходные артиллерийские установки СУ-76. На снимке - тренировка механиков-водителей танков Т-34-85

Trung đoàn tăng đầu tiên của Quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Trung đoàn 202 được thành lập vào ngày 5/10/1959 với biên chế vũ khí là xe tăng T-34-85 và pháo tự hành SU-76. Trên hình là khoa mục đào tạo lái xe tăng T-34-85.



Ảnh 3:

Рост бронетанковых сил северовьетнамской армии в 1959 г. одновременно сопровождался качественным и количественным улучшением средств борьбы с танками. В опасении вторжения с Юга в составе армии Северного Вьетнама было сформировано несколько противотанковых артиллерийских батальонов вооруженных германскими 75-мм противотанковыми орудиями РаК-40 времен Второй мировой войны. Такие пушки в огромных количествах были захвачены в 1945 г. Красной Армией а теперь Советский Союз предоставил их вьетнамскому народу для защиты от возможной агрессии с Юга. Снимок орудий РаК-40 сделан на параде в Ханое в 1960 г.

Việc phát triển lực lượng tăng thiết giáp quân đội Miền Bắc trong năm 1959 được tiến hành đồng thời với việc tăng cường cả số lượng và chất lượng các khí tài chiến đấu chống xe tăng. Nhằm đối phó với mối đe dọa xâm lược từ Miền Nam lực lượng quân đội Miền Bắc Việt Nam thành lập một số tiểu đoàn pháo chống tăng trang bị loại pháo chống tăng PAK-40 cỡ nòng 75 ly của Đức thời Chiến tranh Thế giới thứ 2. Năm 1945 Hồng quân Liên Xô thu giữ được số lượng lớn loại pháo này và nay Liên Xô chuyển sang cho nhân dân Việt Nam để chống lại khả năng bị xâm lược từ Miền Nam. Trên ảnh là pháo PAK-40 (Buff: do xe GAZ-63 kéo) tham dự duyệt binh tại Hà Nội vào năm 1960.



Ảnh 4:

В 1966 г. после печально знаменитого Тонкинского инцидента северовьетнамцы стали готовиться к отражению агрессии со стороны США. На побережье были развернуты позиции артиллерийских противотанковых батарей личный состав которых готовился сорвать высадку десанта. На снимке - огневая позиция 57-мм противотанкового орудия ЗиС-3 советского производства на пляже недалеко от 17-й параллели которая делила Вьетнам на Северный и Южный.

Năm 1966 sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ đáng tiếc Miền Bắc Việt Nam tiến hành chuẩn bị cho việc đánh bại một cuộc xâm lược do Mỹ phát động. Các trận địa pháo chống tăng được đặt dọc bờ biển và pháo thủ được huấn luyện chống đổ bộ. Trên hình là trận địa của một khẩu pháo chống tăng ZIS-3 57 ly do Liên Xô chế tạo được đặt cách không xa Vĩ tuyến 17 phân chia Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam.
Lời bình của Buff: Tác giả hoặc người đặt lời bình bức ảnh đã nhầm lẫn giữa loại pháo và cỡ nòng. Trên hình đúng là loại pháo chống tăng cỡ nòng 57 ly nhưng là ZIS-2 chứ không phải ZIS-3. Nhà máy quân khí Stalin chế tạo 2 loại pháo có hình dáng tương tự nhưng khác cỡ nòng là ZIS-2 và ZIS-3 trong đó ZIS-2 cỡ nòng 57 ly dùng chống tăng còn ZIS-3 cỡ nòng 76 2 ly là dã pháo dùng cho cả nhiệm vụ chống tăng và trang bị cho cấp sư đoàn.



Ảnh 5:

Помимо обычных средних танков Т-34-85 и Т-54 СССР предоставил Вьетнаму легкие плавающие танки ПТ-76 и гусеничные бронетранспортеры БТР-50ПК. На снимке - танки ПТ-76 и бронетранспортеры БТР-50ПК из 198-го бронетанкового батальона 202-го танкового полка. 28 января 1968 г. этот батальон атаковал укрепленный пост Ланг Вей район Кхе Сань который обороняли американские зеленые береты. То был первый случай использования бронетехники против американских подразделений. На башнях некоторых танков ПТ-76 установлены 12 7-мм пулеметы ДШК.

Bên cạnh các loại tăng chủ lực như T-34-85 và T-54 Liên Xô còn viện trợ cho Việt Nam loại tăng lội nước hạng nhẹ PT-76 và xe thiết giáp bánh xích chở quân BTR-50PC. Trên hình là đội hình tăng PT-76 và xe thiết giáp chở quân BTR-50PC của Tiểu đoàn 198 Trung đoàn tăng 202. Ngày 28/1/1968 tiểu đoàn này đã tấn công cứ điểm Làng Vây tại khu vực Khe Sanh do quân mũ nồi xanh Mỹ đồn trú. Đây là lần đầu tiên lực lượng tăng thiết giáp được sử dụng để tấn công một lực lượng dưới cấp sư đoàn của Mỹ. Trên tháp pháo một số xe tăng PT-76 có gắn khẩu đại liên 12 7 ly DShK.



Ảnh 6:

Танк (возможно Т-54 или «Тип 59») 202-го танкового полка армии ДРВ 1972 г.
Chiếc tăng (có thể là T-54 hoặc "Kiểu 59") của Trung đoàn tăng 202 Quân đội VNDCCH chụp năm 1972.



Ảnh 7:

Линейка танков 202-й бригады северовьетнамской армии перед сражением за г.Анлок апрель 1972 г.
Dãy tăng của Lữ đoàn 202 quân đội Bắc Việt trước giờ xung trận An Lộc tháng 4/1972.




Ảnh 8:

Северовьетнамские танкисты вместе с пехотинцами расположились на башне танка (возможно Т-54 или «Тип 59») г. Сайгон апрель 1975 г.

Lính tăng và bộ binh Miền Bắc Việt Nam trên tháp pháo xe tăng (có thể là loại T-54 hoặc kiểu T-59 của Trung Quốc) tại Sài Gòn vào tháng 4/1975.



Ảnh 9:

Коллапс II-го корпуса армии Южного Вьетнама в Центральном Нагорье привел к катастрофе сайгонского режима во всей северной части республики Вьетнам. В конце марта 1975 г. паника царила на улицах городов Хюэ и Дананг. Эвакуация морем из Дананга обернулась всеобщим хаосом. Быстрое падение Дананга стало неожиданным даже для командования армии Северного Вьетнама. Части 2-го армейского корпуса армии ДРВ получили приказ стремительным маршем выйти к Данангу и захватить город вместе с близлежащими военными базами. Командование корпуса не успело подготовить к маршу 203-ю танковую бригаду. В тот период выступить смогли только батальоны приданного фронту Куанг Три Тиен 574-го танкового полка. 17 марта 1975 г. танки Т-54Б из 574-го полка вступили на улицы Дананга танкисты не встретили никакого сопротивления.

Sự tan rã của Quân đoàn 2 quân đội Miền Nam trên Cao nguyên Trung phần kéo theo thảm bại cho chính quyền Sài Gòn tại toàn bộ phần phía Bắc của Việt Nam Cộng hòa. Cuối tháng 3/1975 không khí hoảng loạn bao trùm các ngả đường tại hai thành phố Huế và Đà Nẵng. Việc di tản đường biển từ Đà Nẵng hoàn toàn tê liệt trong hỗn loạn. Sự sụp đổ nhanh chóng của Đà Nẵng nằm ngoài tính toán của Bộ tư lệnh quân đội Bắc Việt. Các đơn vị của Quân đoàn 2 quân đội VNDCCH nhận lệnh nhanh chóng hành quân tới tiếp quản thành phố và các căn cứ quân sự xung quanh. Bộ tư lệnh Quân đoàn không đủ thời gian để tung Lữ đoàn tăng 203 vào trận mà chỉ kịp điều động Trung đoàn tăng 574 lúc đó đang phối thuộc cho mặt trận Quảng Trị - Thừa Thiên. Ngày 17/3/1975 những chiếc tăng T-54B của Trung đoàn 574 đã lăn xích trên các đường phố Đà Nẵng mà không gặp bất kỳ sự kháng cự nào.



Ảnh 10:

Танки Т-34-85 и Т-54 из 202-го танкового полка на учениях ДРВ. На ранней стадии конфликта доктриной северовьетнамской армии не предусматривалось массированное использование танков. Танки в силу их небольшого количества предусматривалось использовать лишь как средство усиления пехотной атаки на открытой местности и для действий против фортификационных сооружений.

Nhóm xe tăng T-34-85 và T-54 thuộc Trung đoàn tăng 202 VNDCCH đang diễn tập hiệp đồng. Trong giai đoạn đầu của cuộc chiến quân đội Miền Bắc không sử dụng chiến thuật đội hình xe tăng tập trung (Buff: chiến thuật tăng bầy). Do số lượng ít xe tăng chỉ được dùng làm phương tiện yểm trợ hoả lực cho bộ binh trên đồng trống hoặc dành tiêu diệt hoả điểm.




Ảnh 11:

Отработка самостоятельных действий без взаимодействия с пехотой экипажами танков Т-34-85 Т-54 и Т-54А из 202-го танкового полка. Согласно наставлениям укрепленные огневые точки противника танки атаковали без поддержки пехоты на большой скорости ведя огонь с ходу и с коротких остановок. Тактика оказалась порочной за эту ошибку северовьетнамские танкисты заплатили кровью в 1971 г. в Лаосе и в 1972 г. в Южном Вьетнаме.

Nhóm tăng T-34-85 T-54 và T-54A của Trung đoàn tăng 202 hành tiến độc lập không phối hợp với bộ binh. Theo cẩm nang nhóm tăng dùng tốc độ xung phong không kèm bộ binh xạ kích trong hành tiến hoặc dừng ngắn để tấn công các hoả điểm của đối phương. Đây té ra lại là một chiến thuật sai lầm dẫn tới lực lượng tăng Bắc Việt phải trả giá bằng máu của chính mình trong các năm 1971 ở Lào và 1972 ở Miền Nam Việt Nam.



Ảnh 12:

Батарея зенитных бронетранспортеров БТР-40А на учениях. Все машины оснащены радиостанциями но вьетнамцы предпочитали отдавать команды сигнальными флажками. На бортах бронетранспортеров написаны патриотические лозунги.

Khẩu đội xe bọc thép phòng không BTR-40A đang luyện tập. Mặc dù các xe được trang bị điện đàm nhưng người Việt lại thích dùng cờ lệnh hơn. Trên thành xe bọc thép có viết các khẩu hiệu yêu nước.




Ảnh 13:

В 1969 г. зенитно-артиллерийские части армии Северного Вьетнама начали получать бронетранспортеры БТР-40А - модификация бронетранспортера БТР-40 вооруженная спаренной 14 5-мм пулеметной установкой ЗПУ-2. На снимке - два бронетранспортера БТР-40А на огневой позиции рядом - командирская машина оснащенная оптическими приборами наблюдения. На головах зенитчиков одеты каски советского и китайского образца.

Năm 1969 các đơn vị pháo phòng không của quân đội Miền Bắc Việt Nam tiến hành tiếp nhận các xe bọc thép BTR-40A (phiên bản của xe bọc thép chở quân BTR-40) trang bị súng ZPU-2 cỡ nòng 14 5 ly. Trên ảnh là 2 chiếc xe bọc thép BTR-40A đang trong tư thế xạ kích chiếc kế bên là xe chỉ huy được trang bị khí tài trinh sát quang học. Lính phòng không đội mũ sắt kiểu Xô-viết và Trung Quốc.




Ảnh 14:

В 1965 г. Ханой получил дополнительное военное имущество и технику из Советского Союза в том числе впервые во Вьетнам были поставлены танки Т-54. Танки Т-54 поступили на вооружение 202-го полка причем в полку остались на вооружении танки Т-34-85. Снимок техники 202-го танкового полка сделан во время учений - отработка марша по пересеченной местности.

Trong năm 1965 Hà Nội tiếp nhận đợt bổ sung khí tài và trang bị kỹ thuật quân sự từ Liên Xô trong đó có loại tăng T-54 lần đầu tiên được viện trợ cho Việt Nam. Đợt xe tăng T-54 này được trang bị cho Trung đoàn tăng 202 bên cạnh loại xe tăng T-34-85 trang bị trước đó. Trên hình là các phương tiện chiến đấu của Trung đoàn tăng 202 đang luyện tập vượt địa hình phức tạp.




Ảnh 15:

Легкие гусеничные артиллерийские тягачи АТ-Л полевой ремонт где-то в Лаосе недалеко от базы американской морской пехоты в Кхе Сань январь 1968 г. В кузове переднего тягача смонтирован небольшой кран с помощью которого меняют двигатель на втором тягаче. Тягачи - поздней постройки с новыми более широкими опорными катками. Тягач АТ-Л обладал тяговым усилием в 6 т и мог перевозить в кузове груз массой до 2 тонн.

Xe kéo pháo bánh xích hạng nhẹ AT-L đang được sửa chữa trên chiến trường tại một địa điểm trên đất Lào cách không xa căn cứ của lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ ở Khe Sanh vào tháng 1/1968. Trên thùng chiếc xe thứ nhất có gắn chiếc cẩu nhỏ dùng hỗ trợ công việc thay máy của chiếc thứ hai. Các xe kéo đời sau được thiết kế với bánh xích kiểu mới và lớn hơn. Xe kéo AT-L có lực kéo 6 tấn và có thể chuyên chở khối lượng 2 tấn trên thùng xe.



Ảnh 16:

Щитом от воздушных атак в первые дни наступления «Нгуен Хюэ» служила плохая погода. Как только облачность рассеялась в полную силу заработала американская и южновьетнамская авиация. На снимке - колонну танков Т-54 сопровождают две ЗСУ-57-2.

Thời tiết xấu trong những ngày đầu của chiến dịch Nguyễn Huệ đã ngăn cản các phi vụ không kích. Tới khi trời quang mây tạnh Không lực Mỹ và không lực Miền Nam huy động tổng lực bắt đầu tham chiến. Trên hình là đội hình tăng T-54 được 2 xe phòng không tự hành ZSU-57-2 hộ tống.




Ảnh 17:

На заключительном типе операции Хо Ши Мин северяне впервые использовали новейшие и лучшие в мире ЗСУ-23-4 «Шилка». В то время в боевых действиях могла принять участие единственная батарея этих самоходок из 237-го зенитно-артиллерийского полка.

Giai đoạn cuối Chiến dịch Hồ Chí Minh quân Miền Bắc lần đầu tiên tung vào trận những chiếc xe phòng không tự hành kiểu mới và hiện đại nhất thế giới loại ZSU-23-4 Shilka. Tại thời điểm chiến sự đó Trung đoàn pháo phòng không 237 chỉ kịp điều một khẩu đội (đại đội) loại pháo phòng không tự hành kiểu này tham gia xung trận.




Ảnh 18:

Три бронетранспортера БТР-40А вооруженных зенитками в патруле на шоссе в окрестностях приморского города Ня Транг начало апреля 1975 г. Бронетранспортеры БТР-40 в зенитном варианте часто использовались в разведывательных подразделениях танковых полков.

Ba xe bọc thép chở quân BTR-40A trang bị súng phòng không đang tuần tra trên tuyến quốc lộ khu vực phụ cận thành phổ biển Nha Trang vào đầu tháng 4/1975. Xe bọc thép chở quân BTR-40 phiên bản phòng không thường được biên chế vào phân đội trinh sát của các trung đoàn xe tăng.




Ảnh 19:

Бронетранспортеры БТР-40А часто привлекались для обеспечения ПВО автоколонн на маршах по тропе Хо Ши Мина. Скорострельные с мощными пулями 14 5-мм пулеметы оказались весьма эффектным средством борьбы с низколетящими воздушными целями. На снимке - замаскированный ветками БТР-40А на заднем плане - грузовики ГАЗ-63.

Xe bọc thép chở quân BTR-40A thường được dùng vào nhiệm vụ phòng không cho xe vận tải chạy trên tuyến đường Hồ Chí Minh. Súng máy bắn nhanh cỡ nòng 14 5 ly là phương tiện chiến đấu rất hiệu quả chống lại máy bay bay thấp. Trên hình là xe BTR-40A cắm lá nguỵ trang và phía sau là những chiếc xe vận tải GAZ-63.




Ảnh 20:

В ходе операции «Лам Сон 719» южновьетнамцы пытались перерезать тропу Хо Ши Мина. Тогда впервые северовьетнамцы использовали танки Т-54. На снимке - Т-54 и Т-54А из 202-го танкового полка переброшенные в Лаос. В боях с южновьетнамцами приняли участие не менее трех батальонов танков Т-54 и ПТ-76 приданных армейскому корпусу 70В. Северовьетнамские танкисты заставили убраться южновьетнамцев обратно в Южный Вьетнам.

Trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719" quân Miền Nam cố gắng chặt đứt tuyến đường Hồ Chí Minh. Đây cũng là lần đầu tiên loại xe tăng T-54 của quân đội Miền Bắc Việt Nam xung trận. Trên hình là đội hình tăng T-54 và T-54A của Trung đoàn xe tăng 202 được điều sang Lào. Trong các trận đánh với quân Miền Nam không dưới 3 tiểu đoàn tăng T-54 và PT-76 được phối thuộc tham chiến trong đội hình Quân đoàn 70B (Buff: Bộ tư lệnh Mặt trận đường 9). Lực lượng tăng Bắc Việt đã đẩy lùi quân Miền Nam trở về lãnh thổ Nam Việt Nam.




Ảnh 21:

Танки Т-34-85 из 202-го танкового полка 1971 г. На снимке - модернизированные в 1960-е годы «тридцатьчетверки» с опорными катками от Т-55. На некоторых машинах установлены активные ИК приборы ночного видения ФГ-100. Простые и надежные Т-34-85 эксплуатировались в армии Северного Вьетнама до самого конца войны. «Тридцатьчетверки» использовались в армии Вьетнама еще долгие годы после окончания войны в качестве учебных.

Những chiếc xe tăng T-34-85 của Trung đoàn tăng 202 vào thời điểm năm 1971. Trên hình là những chiếc T-34 được hiện đại hoá trong thập niên 1960 với việc sử dụng bánh xích xe tăng T-55. Một số xe được gắn kính ngắm hồng ngoại nhìn đêm FG-100. Loại xe tăng T-34-85 đơn giản và dùng bền này được quân đội Miền Bắc sử dụng tới cuối cuộc chiến và thậm chí còn lâu hơn cho công tác huấn luyện.




Ảnh 22:

Для защиты от авиации на крышах башен танков Т-34-85 вьетнамцы установили пулеметы ДШК. Огонь из пулемета можно было вести только стоя на крыше моторно-трансмиссионного отделения танка - очень уязвимая позиция для танкиста. Интересный момент - на этом танке стоят опорные катки минимум трех типов два катка - периода Великой Отечественной войны и один - от танка Т-55.

Trên tháp pháo xe tăng T-34-85 có gắn đại liên DShK dùng vào mục đích phòng không. Để tác xạ khẩu súng này xạ thủ của xe phải phơi mình ở một vị trí nguy hiểm trên nắp khoang động cơ phía ngoài xe. Có một chi tiết thú vị là chiếc tăng này được lắp ít nhất 3 loại bánh xích: 2 bánh truyền động có từ thời Thế chiến 2 và 1 bánh truyền động của xe tăng T-55.




Nguồn: http://www.otvaga2004.narod.ru
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=4357.0

More...

Gặp nhau giữa Sài Gòn

By phuctrinh

Gặp nhau giữa Sài Gòn


Chủ Nhật 11/5/2008 chúng tôi có một cuộc hội ngộ tại thành phố Hồ Chí Minh đầy bất ngờ và thú vị.

More...

DANH SÁCH LỚP ĐK2 KHÓA I TRƯỜNG SĨ QUAN THIẾT GIÁP

By phuctrinh

DANH SÁCH LỚP ĐK2 KHÓA I TRƯỜNG SĨ QUAN THIẾT GIÁP
Hăm lăm người- Hăm lăm lái xe
Đến 23/10/2009 mới có số liên lạc của 9 bạn

More...

Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: PT-85

By phuctrinh

Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: PT-85
19.01.2008 20:30

 
Ngoài PT-76 quân đội nhân dân Việt Nam còn dùng các xe tăng lội nước sau: Type-63 do Trung quốc chế tạo . Tuy nhiên Việt Nam thường gọi chung loại này là PT-85.

PT-85 được sản xuất dựa theo mẫu của PT-76 nhưng được thay tháp pháo tương tự như xe tăng T-54 T-59 với nòng pháo cỡ 85 mm. Trong giai đoạn chiến tranh biên giới Tây Nam với Polpot ta thu được nhiều xe PT-85 (Type-63) của Trung Quốc cung cấp cho Khmer đỏ sau đó trang bị lại cho quân giài phóng Campuchia.

Dưới đây là 2 loại xe nói trên

XE TĂNG LỘI NƯỚC TYPE 63

THÔNG SỐ KỸ THUẬT

Loại:Xe tăng lội nước hạng nhẹ
Nước sản xuất: Trung Quốc
Nặng:18.4 tấn
Dài 7.288 m
Bề ngang: 3.2 m
Cao: 2.522 m
Tổ lái:4 người
Vũ khí: Súng chính 85mm( 105mm với Type 63A)
1 đại liên đồng trục 7 62mm
1 đại liên 12 7mm gắn trên đỉnh tháp pháo
Động cơ:12150L2 diesel
400 mã lực
Tầm hoạt động: 370km
Vận tốc: 64km/h trên cạn
12km/h dưới nước

Xe tăng lội nước Type 63 là loại xe tăng lội nước hạng nhẹ được Trung Quốc chế tạo dưạ theo y nguyên bản PT-76 cuả Liên Xô chỉ khác là Type 63 được gắn tháp pháo cuả Type 62 hình vòm có 1 lỗ thông hơi được gắn ống thở . Súng chính được thay thế bằng pháp 85mm có thể bắn đạn AP APHE HE và HEAT thay cho loại 76mm cuả PT-76 Type 63 còn được trang bị thêm 1 đại liên 12 7mm trên đỉnh tháp pháo.Tổ lái nâng lên 4 người và động cơ 12150L2 Diesel 400 mã lực cuả nó nâng tốc độ tối đa trên cạn lên tới 64km/h.Type 63 được TQ cung cấp cho Quân đội NDVN trong kháng chiến chống Mỹ có tham gia các trận đánh kèm với PT-76 hiện nay được sử dụng trong 1 số đơn vị tăng thiết giáp và Hải quân đánh bộ. Type 63 vẫn còn được Quân đội Trung QUốc sử dụng trong các đơn vị Thuỷ quân lục chiến nhưng với phiên bản Type 63A.

 




 

PT-85 của Việt Nam

Nguồn: Vietnam Defence Millitary Technology and News _ Diễn đàn Khoa học Kỹ thuật Quân sự và Quốc phòng

More...

Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: BMP-1

By phuctrinh

Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: BMP-1
22.01.2008 19:59

 
Bronevaya Maschina Piekhota (BMP-1) được sản xuất lần đầu vaò đầu những năm 1960 và ra mắt vào năm 1967 tại cuộc duyệt binh trên Quảng trường Đỏ.

BMP-1 đánh dấu 1 sự thay đổi quan trọng từ khái niệm xe bọc thép (Armored Personnel Carrier) thành Xe chiến đấu bộ binh(chiến xa bộ binh) phối hợp giưã tính cơ động cao vũ khí chống tăng hiệu quả và giáp bảo vệ nhằm mục đích vận chuyển bộ binh.BMP-1 có kích thước nhỏ hơn đáng kể so với các loại xe bọc thép(APC) cuả phương Tây nhưng trang bị hoả lực lại mạnh hơn. BMP-1 được cách tân cho phép lính bộ binh có thể bắn bằng vũ khí cá nhân cuả họ từ bên trong xe tăng qua các lỗ châu mai điều này sẽ giúp họ có thể chiến đấu từ bên trong xe với giáp bảo vệ an toàn.Để làm được điều này các lỗ châu mai và kính tiềm vọng đều được thiết kế cho từng binh sĩ trong xe. BMP-1 trở thành Chiến xa bộ binh đầu tiên trên thế giới nó có thể chở theo bộ binh từ 3 đến 8 người.BMP-1 thay thế các xe thiết giáp BTR-50P và bổ sung cho các xe thiết giáp BTR-60PB trong những đơn vị bộ binh cơ giới chủ lực.



Xe BMP-1 của Việt Nam trong một buổi diễu binh

Sự phối hợp giữa hoả lực chống tăng hiệu quả độ cơ động cao giáp bảo vệ tương xứng BMP-1 đã trở thành 1 thứ vũ khí lợi hại cho bộ binh Liên Xô.Được thiết kế để đáp ứng nhu cầu tấn công nhanh trong thời đại chiến tranh hạt nhân súng chính 73mm loại 2A20 với 40 viên bắn đạn HEAT có liều phóng hỗ trợ(loại đản mà RPG-7 sử dụng) có tầm bắn tối đa 7000 ft tầm bắn hiệu quả cuả nó khoảng 800m( có thể tiêu diệt xe tăng ở khoan3g cách tới 1300m) và đượ ctrang bị hệ thống nạp đạn tự động.Hệ thống vũ khí chính cuả BMP-1 cũng khác thường có thể bắn chung loại đạn cuả súng chống tăng RPG-7 bệ phóng tên lưả chống tăng AT-3 Sagger gắn trên súng chính để tăng thêm khả năng diệt tăng (tới 3000m)
BMP-1 có đầy đủ tính năng cuả 1 Xe chiến đấu bộ binh lội nước với thân xe thấp mũi xe nghiêng như mũi thuyền.Tháp pháp hình chóp cụt đặt ở giưã thân xe được gắn 1 súng chính 73mm nòng trơn và 1 đại liên7 62mm đồng trục và 1 bệ phóng tên lưả chống tăng AT-3 Sagger ngay phiá trên súng chính. Động cơ 6 xi-lanh Diesel làm mát bằng nước có công suất 290 mã lực đặt ở bên phải trước thân xe.Cưả dành cho lái xe nằm ở bên trái thân trước đèn nhìn đêm IR gắn ở trên nóc tháp pháo phiá trước cưả dành cho xa trưởng. Phiá sau thân xe có 4 cưả nhỏ ở trên sàn khoang chở lính và có 2 cưả ra vào lớn ở sau đuôi xe.Có 4 lỗ châu mai ở mỗi bên sườn cuả khoang chở lính và 1 lỗ ở cưả ra vaò bên trái.BMP-1 chạy bằng xích có 6 bánh dẫn động giống như PT-76 nhưng có thêm 3 bánh đỡ xích.BMP-1 có khả năng lội nước bằng xích cuả nó thay vì lội bằng hệ thống đẩy phản lực nước như ở PT-76 có tốc độ và tầm hoạt động cần thiết để bắt kịp các loại xe tăng tốc độ nhanh mà nó đi theo trong đội hình tấn công.




Hỏa tiễn chống tăng trên BMP-1

Tổ lái cuả BMP-1 gồm 3 người bao gồm cả xa trưởng người mà sẽ trở thành chỉ huy nhóm bộ binh tác chiến khi họ rời khỏi xe.Với các lỗ châu mai và kính tiềm vọng ở 2 bên sườn xe lính bộ binh ngôì trong xe có thể bắn bằng các loại vũ khí cá nhân như AK trung liên PKM ngay cả trong khi di chuyễn thậm chí cả súng chống tăng RPG-7 RPG-16 và cả tên lưả vác vai SA-7 điều naỳ khiến cho BMP-1 gần như là 1 lô cốt di động. Xe có hệ thống bảo vệ NBC cho tổ lái và lính bộ binh giúp họ tác chiến mà ko bị ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài.
BMP-1 được trang bị đèn hồng ngọai tiềm vọng kính và thiết bị ngắm hồng ngoại để tác chiến ban đêm.BMP-1 có tính năng tạo khói mù bằng cách phun nhiên liệu diesel vào buồng thải khói.

Tuy nhiên tính chất dễ bị tổn thương cuả BMP-1 thể hiện qua cuộc chiến tranh ở Trung Đông năm 1973 đã gây ra nhiều tranh cãi trong quân đội Liên Xô về vấn đề :" BMP-1 nên được sử dụng như thế nào trong trận chiến?". BMP-1 có giáp bảo vệ tương đối mỏng( dày nhất 19mm ở thân xe và 23mm ở tháp pháo) có thể đủ sức bảo vệ xe trước đạn xuyên giáp chống cơ giới cỡ 12 7mm ( chỉ với chỗ giáp có độ nghiêng trên 60 độ) nhưng BMP-1 lại dễ bị tổn thương trước tên lưả chống tăng và hoả lực xe tăng cuả đối phương. Sự bố trí cuả các vị trí nguy hiểm như buồng đạn buồng nhiên liệu khoang động cơ hay khoang chở lính đều ko an toàn trước sự xuyên phá cuả vũ khí chống tăng.

Vì thiết kế giới hạn trong việc hạ thấp súng chính nên BMP-1 khó khăn khi bắn tiả từ vị trí cao mà phải lộ toàn thân ra để chiến đấu điều này làm BMP-1 dễ dàng trở thành mục tiêu nhắm bắn cuả đối phương.

BMP-1 có thể đạn đến vận tốc tối đa cuả nó là 70km/h nhưng chỉ trong khoảng thời gian ngắn do độ dằn xóc quá cao và hệ thống truyền động ko thể đáp ứng được.Do hệ thống nạp đạn tự động quá phức tạp và thiếu ổn định nên BMP-1 ko thể bắn khi đang chạy trên điạ hình gồ ghề. BMP-1 phải đứng yên khi bắn tên lưả AT-3 Sagger AT-3 Sagger rất khó nạp đạn và hoàn toan2 ko thể nạp đạn trong tình trạng bảo vệ NBC.

Nhìn chung BMP-1 là xe chiến đấu bộ binh đầu tiên nên nó vẫn còn 1 số khuyết điểm và vẫn thưà hưởng những hạn chế cuả dòng tăng Liên Xô tuy nhiên nó vẫn là 1 thứ vũ khí đáng tin cậy cua bộ binh trên chiến trường và được rất nhiều quốc gia sử dụng.Tham gia nhiều cuộc chiến tranh:

1973 CHiến tranh Yom Kippur( Israel+ các nước Ả Rập)
1975-2000 Nội chiến Angola
1979-1988 Chiến tranh cuả Liên Xô tại Afghanistan
1980-1988 Chiến tranh Iran-Iraq
1990-1991 Chiến tranh vùng Vịnh
1991-2001 chiến tranh Nam Tư
1994-1996 Chiến tranh Chechen lần 1
1999- Chiến tranh Chechen lần 2
2001- Chiến tranh cuả Mỹ tại Afghanistan
2003- Chiến tranh Iraq
Hiện nay Quân đội Nhân dân Việt Nam có khoảng 300 chiếc BMP-1

THÔNG SỐ KỸ THUẬT
Loại: Xe chiến đấu bộ binh
Nước SX: Liên Xô
Nặng 13.5 tấn
14.7 tấn với BMP-1P[1]
Dài: 6.74m
Rộng: 2.94 m
Cao: 2.15 m
Tổ lái: 3 (Xa trưởng lái xe xạ thủ) (+8 lính bộ binh)
Giáp: Dày nhất 19mm ở thân xe và 23-40mm ở tháp pháo
Vũ khí:Súng chính73 mm 2A28 Grom nòng trơn (40 viên)
Đại liên đồng trục 7 62mm
Tên lưả chống tăng 9M14 Malyutka (AT-3 Sagger) BMP-1
9M111 Fagot (AT-4 Spigot) 9M111-2 Fagot (AT-4B Spigot B) 9M113 Konkurs (AT-5 Spandrel) tuỳ theo phiên bản
Động cơ:UTD-20 6-xilanh diesel làm mát bằng nước
290-300 mã lực
Tầm hoạt động:600km
TỐc độ: 65-70km/h trên đường nhưạ
45km/h trên đường gồ ghề
7km/h dưới nước

Nguồn: Vietnam Defence Millitary Technology and News _ Diễn đàn Khoa học Kỹ thuật Quân sự và Quốc phòng

More...

Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: BMP-2

By phuctrinh

Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: BMP-2
30.01.2008 20:46

 
Xe chiến đấu bộ binh BMP-2 được đưa vào sử dụng vào những năm 1980 là mẫu cải tiến cuả BMP-1 với những thay đổi về vũ khí chính.







Tháp pháo mới 2 người được thay thế cho tháp pháo 1 người cuả BMP-1 súng chính 30mm nòng dài nhỏ tốc độ cao có thể dùng để chống lại máy bay trực thăng và bộ binh bệ phóng tên lưả chống tăng gắn trên tháp pháo có thể lắp các loại tên lưả chống tăng như AT-4 SPIGOT hoặc AT-5 SPANDREL. Với tháp pháo được thiết kế rộng hơn số lượng cưả quan sát cho lính bộ binh giảm xuống còn 2 cưả thay vì 4 cưả ở BMP-1 và số lính bộ binh chở theo giảm đi 1 người( còn 7 người). Mỗi bên sườn xe ở vị trí khoang chở lính có 3 lỗ châu mai và tiềm vọng kính.


BMP-2 có khả năng lội nước như BMP-1 xích cuả nó được cải tiến so với BMP-1 để tăng khả năng nổi trên mặt nước. BMP-2 có thể trang bị giáp nổ cảm ứng ERA nhưng ERA lại gây nguy hiểm cho bộ binh tùng thiết nên giáp bảo vệ thụ động thích hợp hơn còn ERA thì ko được tin cậy hơn nưã khi lội nước mà gắn thêm giáp thì ko phù hợp.BMP-2 có thêm 1 số cải tiến về bộ phận điều hoà ko khí và động cơ mạnh hơn BMP-1. Tháp pháo được thiết kế rộng hơn và có 2 cưả quan sát cho 2 người như vậy sẽ có 1 người điều khiển súng chính 30mm loại 2A72 và 1 người sử dụng tên lưả chống tăng tránh được việc 1 người làm 2 việc cùng lúc. Bệ phóng tên lưả chống tăng Kornet được trang bị thiết bị ngắm hồng ngoại gồm 1 tên lưả trên bệ phóng và 4 tên lưả dự trữ cơ chế nạp đạn bằng tay. Loaị tên lưả sử dụng có thể là AT-4 AT-4B hoặc AT-5 AT-5B ngoài ra BMP-2 có thể sử dụng các loại tên lưả Milan Milan-2 Milan-3. Thiết bị định hình mục tiêu cho tên lưả bằng hồng ngoại loại Trakt/1PN65 cuả Nga được trang bị cho BMP-2 có tầm định vị khoảng 2500m. Loại Mulat/1PN86 cuả Nga có thể đạt tới 3600m.

THÔNG SỐ KỸ THUẬT
Loại: Xe chiến đấu bộ binh
Nước sản xuất: Liên Xô
Nặng: 14.3 tonnes
Dài: 6.72 m
Rộng: 3.15 m
Cao: 2.45 m
Tổ lái: 3 người + 7 lính bộ binh
Giáp: Dày nhất 33mm
Vũ khí: Súng chính 30mm loại 2A42
Tên lưả chống tăng AT-4 hoặc AT-5
1 đại liên đồng trục 7 62mm
Động cơ: UTD-20/3 Diesel 300 mã lực
Tầm hoạt động: 600km
Vận tốc: 65km/h trên đường nhưạ
45km/h trên đường gồ ghề

Nguồn: Vietnam Defence Millitary Technology and News _ Diễn đàn Khoa học Kỹ thuật Quân sự và Quốc phòng

More...

Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: M-113

By phuctrinh

Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: M-113
28.01.2008 23:40

 
Thiết giáp chở quân (APC – Armored Personel Carrier) hay còn gọi là thiết vận xa M-113 là loại xe APC phổ biến nhất trong lịch sử chiến tranh hiện đaị. Được sản xuất vào cuối thập niên 50 vào thời kỳ đầu của chiến tranh lạnh với hơn 28.000 chiếc được sản xuất với 12 phiên bản khác nhau nhưng chủ yếu là các phiên bản M-113A1 M-113A2 M-113A3. Hiện nay M-113 còn phục vụ trên 50 quốc gia trong đó có Việt Nam.

Thiết vận xa M 113 và cuộc thử nghiệm trên chiến trường Việt Nam


 

Cuối năm 1961 trước áp lực quân sự ngày càng cao của quân giải phóng miền Nam (GPMN) tiến hành hàng loạt cuộc tấn công vào vị trí phòng thủ của Quân VNCH Hoa Kỳ đã tăng cường yểm trợ quân sự và kinh tế cho VNCH. Trong số những quân dụng được Hoa Kỳ chuyển giao cho Quân VNCH có loại xe thiết giáp M 113. Ban đầu các xe này được đem huấn luyện và trắc nghiệm trong các cuộc hành quân bộ binh có sử dụng cơ giới. Cuộc chuyển giao M-113 phục vụ trong chiến đầu tiên diễn ra vào ngày 30 tháng 2/1962 với 32 chiếc M 113 trong đó 30 chiếc giao cho hai đại đội thiết giáp Ngụy mỗi đại đội có 15 chiếc. Theo tổ chức mỗi đại đội có 3 chi đội chiến đấu và 1 chi đội yểm trợ mỗi chi đội chiến đấu có 3 M-113 chi đội yểm trợ có 4 chiếc M 113 trong đó có 3 chiếc được gắn súng cối 60 ly và 3 súng phóng hỏa tiễn 3.5 và một ban chỉ huy đại đội có 2 M-113 một dành cho đại đội trưởng và một cho đội Bảo trì và sửa chữa. Hai đại đội M-113 này chính thức xuất quân vào ngày 11-6-1962 và VNCH quyết định đưa hai đơn vị này xuống đồng bằng Cửu Long để bảo vệ trục lộ huyết mạch nối miền Tây với Sài Gòn. Hai đại đội đặt thuộc quyền điều động của bộ Tư lệnh Sư đoàn 7 và Sư đoàn 21 Bộ binh sau đó được cải biến thành đại đội 7 và đại đội Cơ giới M-113.

Theo học thuyết quân sự Hoa Kỳ loại M 113 được dùng như một loại “Taxi chiến trường” mang quân đến tận trận địa rồi đội quân xuống bộ tấn công mục tiêu thế nhưng trên chiến trường VN kinh nghiệm cho thấy đem lực lượng bộ binh tới sát mục tiêu thường bị tổn thất nặng khả năng di động bị hạn chế tối đa phải hy sinh khả năng yểm trợ của thiết vận xa. Bộ Tham mưu Liên quân Hoa Kỳ đã khẳng định như “đinh đóng cột” rằng Việt Nam là chiến trường của Bộ binh không phải là đất dụng võ cho lực lượng thiết giáp. Các vị tướng Hoa Kỳ cũng đưa ra dẫn chứng bằng nhữngnhững thất bại của Thiết giáp Pháp trong cuộc chiến từ 1946-1954 tại Việt Nam. Các nhà quân sự Mỹ kết luận rằng Việt Nam có địa hình chi chít núi non rừng rậm và nhiều sông ngòi đầm lầy chỉ là “mồ chôn” cho các loại xe cơ giới này. Từ những kinh nghiệm đó Mỹ và quân VNCH đã biến M-113 thành xe chiến đấu trực tiếp hơn là một xe thiết vận xa APC thuần túy. Với một đại liên 12 7 mm và hai trung liên 7 62 mm bắn được về phía bên sườn M-113 đã trở thành một lo cốt di động khá lợi hại bộ binh trong xe có thể chiến đấu trực tiếp thay gì núp kín và chờ đến nơi qui định mới xuống xe để chiến đấu. Và cách đánh này cũng được nhiều đơn vị Hoa Kỳ áp dụng sau này.


Thời gian này Thiết vận xa M-113 càng ngày càng trở thành một loại thiết giáp đa năng có thể đi bất cứ nơi nào trong toàn lãnh thổ miền Nam Việt Nam kể cả những nơi tưởng rằng rất khó sử dụng cho thiết giáp như ở Miền Tây sông ngòi chằng chịt. Bất cứ địa thế hiểm trở nào M-113 cũng có cách thích ứng ngay. Trong năm 1963 nhiều chiến thuật kỹ thuật và đơn vị mới được thử nghiệm trên chiến trường 4 vùng chiến thuật. Trong số những cải tiến này là loại xe M-113 được gắn thêm một khẩu đại liên Browning 50. Với lớp giáp khá dầy tốc độc nhanh công suất lớn và đặc biệt M-113 có khả năng lội nước rất nhanh lúc đầu M-113 đã gây rất nhiều khó khăn cho quân GPMN. Thiết giáp của quân VNCH xuất hiện trong lúc quân GPMN còn yếu và vũ khí chống tăng của quân GPMN thô sơ và hiếm. Quân GPMN không có kinh nghiệm chống thiết giáp vì thế thiết giáp M-113 của quân VNCH rất hữu hiệu và gây cho quân GPMN nhiều khó khăn lúc đầu. Quyết tâm của quân GPMN là phải thắng chiến thuật “thiết xa vận” và “trực thăng vận” của quân VNCH. Tâm lý bộ đội lúc đầu còn sợ xe bọc thép M113 của quân VNCH bởi chúng rất lợi hại cơ động nhanh đi được ở dưới nước.

Toàn quân khu lúc ấy phát động phong trào “dùng súng bộ binh tiêu diệt xe M113 của quân VNCH”. Với tinh thần sáng tạo và ý chí kiên cường quân GPMN đã sáng tạo ra nhiều cách đánh. Quân GPMN đào hầm hố trên các con đường ở miền Tây những mìn bẫy chống tăng được gài hàng dọc hoặc tại những chỗ quẹo. Sau đó quân GPMN được chi viện thêm các loại vũ khí mới như loại lựu đạn chống tăng PGN-2 bắn từ AK 47; súng chống tăng B-40 B-41. Thậm chí đạn AK-47 cải tiến cũng có thể xuyên thủng được vỏ nhôm của M-113 vốn dùng để chống lại bụi phóng xạ hạt nhân.Trong trận Ấp Bắc tháng Giêng 1963 hàng loạt M-113 đã bị bắn hạ rất nhiều xạ thủ đại liên tử trận nên và một số xe M-113 bị bắt sống quân VNCH đã phải cải tiến M-113 rất nhiều trong đó có việc chế ra cái tấm chống đạn bao quanh xạ thủ đại liên hay gắn thêm lưới B-40 bao cát. Như vậy M-113 không còn đáng sợ nữa. Có câu chuyện do các cựu binh kể lại rằng sau này khi hay tin du kích bắn hạ được xe M113 những người Hoa kiều ở Chợ Lớn lần tìm đến Củ Chi đặt hàng mua một số linh kiện máy móc và vỏ nhôm. Cứ mỗi chiếc anh em du kích bán được 10.000-15.000 đồng đủ mua gạo mắm thuốc thang cho cả đại đội ăn trong cả tuần. “Làm ăn” được đến nỗi khi cạn kiệt lương thực thực phẩm thì anh em bộ đội du kích cứ nhong nhóng chờ bọn xe lội nước M-113 đến để kiếm tiền “cải thiện”.

Xe M-113 trong lực lượng tăng - thiết giáp quân đội nhân dân Việt Nam

Ngay từ khi quân VNCH dùng xe tăng thiết giáp để đàn áp phong trào cách mạng ở miền Nam quân GPMN đã nghĩ đến việc xây dựng lực lượng tăng thiết giáp tại miền nam để chống lại chúng. Với truyền thống quân tay không giết giặc lấy vũ khí địch đánh địch quân GPMN đã bắt sống nhiều xe tăng quân VNCH thậm chí có đơn vị đặc công táo bạo tập kích bãi đậu xe quân VNCH và lái xe chiến lợi phẩm về căn cứ an toàn. Trận đánh xe tăng đầu tiên tại miền nam của quân GPMN diễn ra vào ngày …. Với sự “tham chiến” của lực lượng “hỗn hợp” tăng – thiết giáp gồm 4 xe: M-24 M-41 M-8 và M-51. Quân VNCH đã thực sự bất ngờ và hỏang lọan xe tăng của “Việt Cộng”. Sau này trứơc khi những xe tăng bơi PT-76 xuất hiện ở trận Làng Vây quân GPMN đã có trong quân GPMN vài chục chiếc xe tăng M-41 và thiết vận xa M-113 làm vốn để xây dựng nên những binh đòan tăng – thiết giáp hòan chỉnh.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh tại Đà Nẵng trứơc sức tấn công nhanh và mãnh liệt của quân giải phóng quân VNCH đã bỏ lại hàng trăm xe tăng và thiết giáp còn nguyên vẹn trong đó phần nhiều là M-113 M-41 quân GPMN sử dụng ngay những chiếc xe này để đánh quân VNCH.

Sau khi giải phóng miền Nam quân GPMN thu được hàng ngàn xe tăng – thiết giáp các loại của quân VNCH còn sử dụng được trong đó theo đánh giá của các chuyên gia nước ngoài – còn khỏang 500 xe tăng M-113 còn sử dụng được.

Trong chiến tranh biên giới Tây Nam quân GPMN sử dụng rất nhiều xe M-113 cùng với T-54/55 để đánh Khmer Đỏ M-113 được xem là lực lượng xung kích chủ yếu trong lực lượng tăng – thiết giáp trong thời kỳ đó và tỏ ra rất hiệu quả trong tấn công. Hiện nay trong khi các loại tăng chiến lợi phẩm như M-41 M-48 gần như không còn phục vụ nữa thì M-113 vẫn còn là lực lượng chủ yếu trong binh chủng tăng – thiết giáp Việt Nam. Tuy nhiên do bị thiệt hại trong chiến tranh và thiếu phụ tùng thay thế nên số lượng M-113 của Việt Nam bị hao hụt rất nhiều hiện tại con số M-113 còn họat động không được chính xác theo một số nguồn tin con số này là khỏang 200.

Hiện nay QĐNDVN đã từng bước hiện đại hóa số M-113 còn lại bằng cách gửi ra nước ngoài và thay thế các phụ tùng đã hư hỏng bằng thiết bị dễ kiếm từ các nguồn khác trong lúc Mỹ vẫn còn chưa có quan hệ quân sự sâu rộng với Việt Nam. Về vũ khí Việt Nam hầu hết đã thay thế súng Mỹ bằng súng Nga cụ thể là thay đại liên Browning .50 bằng đại liên 12 7 mm. M-113 sẽ còn phục vụ trong lực lượng lâu dài trong điều kiện Việt Nam còn khó khăn trong việc trang bị mới bằng một loại xe APC tương đương với M-113.

 Tài liệu tham khảo

Fas.org
Vietbao.com
Tiengiang.gov.vn
Chống xe tăng bằng vũ khí bộ binh. Nxb Quân đội 1979.


Nguồn: Vietnam Defence Millitary Technology and News _ Diễn đàn Khoa học Kỹ thuật Quân sự và Quốc phòng

More...