Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: PT-76

By phuctrinh

Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: PT-76
16.01.2008 19:58

 

Địa hình nước ta từ Nam chí Bắc phần lớn là rừng núi chiếm hơn 3/4 diện tích xét về mặt địa thế hoàn toàn không thích hợp với kiểu chiến tranh quy ước và đặc biệt là gây khó khăn cho việc tác chiến bằng tăng thiết giáp.
Qua kinh nghiệm của 2 cuộc chiến tranh giữ nước cho thấy địa hình của Việt Nam với kiểu núi rừng đan xen đồng bằng không thích hợp cho việc tác chiến xe tăng với số lượng lớn đặc biệt là không thích hợp cho các loại tăng lớn nặng nề. Tiêu biểu là trong các chiến dịch Tìm diệt của quân đội Mỹ vào chiến khu Dương Minh Châu năm 1967 cuộc hành quân Juinction City quân đội Mỹ đã huy động 1 lượng lớn tăng thiết giáp trong đó chủ yếu là tăng M41 và tăng M48 kèm theo 1 số lượng lớn xe bọc thép M113 để tấn công nhằm tiêu diệt căn cứ quân chủ lực MTDTGP Miền Nam. Cuộc hành quân đã thất bại và quân đội Mỹ đã bị thiệt hại nặng về tăng thiết giáp (hơn 48 xe tăng và xe bọc thép bị bắn cháy chỉ bằng các loại vũ khí chống tăng cá nhân như B40 mìn chống tăng..). Chiến thuật đánh xe tăng ồ ạt kiểu thời thế chiến thứ 2 bị hoàn toàn phá sản ở miền rừng núi Tây Ninh.

Quân đội Nhân Dân Việt Nam đã biết dựa vào nguyên tắc: Chọn vũ khí phù hợp với địa hình phát huy lợi thế chiến đấu của tăng thiết giáp trên một địa hình hoàn toàn không phù hợp cho xe tăng để giáng trả những cú đấm thép vào quân thù. Phải nói rằng người bạn Liên Xô có công rất lớn trong việc cung cấp đúng loại vũ khí phù hợp với địa hình phức tạp của Việt Nam các loại tăng thiết giáp mà QDNDVN được cung cấp đều có tính cơ động cao trọng lượng nhẹ (nặng nhất chỉ có T54 là 36 tấn) chiến đấu rất hiệu quả trên địa hình rừng núi. Binh chủng tăng thiết giáp đã đóng 1 vai trò vô cùng to lớn trong các chiến thắng của Quân đội NDVN trong cuộc kháng chiến chống Mỹ: lần đầu tiên tăng thiết giáp được sử dụng trong trận Làng Vây ở Khe Sanh tiếp đó tăng thiết giáp đã làm nên 1 loạt các chiến công vang dội ở Đường 9 Nam Lào Đắc Tô-Tân Cảnh Quảng Trị và góp phần hết sức to lớn cho thắng lợi của Chiến dịch Hồ CHí Minh lịch sử hình ảnh chiếc xe tăng T54 húc đổ cổng dinh Độc Lập ngày 30/4/1975 luôn là hình ảnh đáng tự hào của các chiến sĩ Tăng Thiết giáp QDNDVN.
Sau đây Website vndefence lần lượt xin cung cấp thông tin về các loại tăng thiết giáp mà QDND Việt Nam hiện đang sử dụng:


XE TĂNG LỘI NƯỚC PT-76


Thông số kỹ thuật
Loại: Xe tăng lội nước hạng nhẹ
Nước Sản xuất:Liên Xô
Nặng: 14 tấn với PT-76
15 4 tấn với PT-76B
Chiều dài(không tính súng chính): 6 91m
Cao: 2 26 m
Rộng: 3 15m
Tổ lái: 3 người
Giáp trước : dày nhất 14mm
Giáp tháp pháo:dày nhất 20mm mỏng nhất 17mm
Vũ khí: Súng chính 76mm D-56T 40 viên
1 súng máy đồng trục 7 62mm loại SGMT hoặc PKT
Động cơ: V-6B Diesel 240 mã lực
Tầm hoạt động:260 km trên cạn và 60 km dưới nước
Tốc độ: 44 km/h trên cạn và 10 2 km/h dưới nước

PT-76 [PT = Plavayushtshiy Tank - Amphibious Tank) là loại xe tăng lội nước hạng nhẹ được chế tạo và sử dụng bởi quân đội Liên Xô mẫu PT-76 được phát triển vào khoảng những năm 1949-1951 dưới sự chỉ đạo của Z.Y. Kotin. PT-76 được đưa vào phục vụ từ năm 1954 với khả năng lội nước mà không cần phải thực hiện các thao tác chuẩn bị như các loại tăng khác (T34 T54). Mặc dù PT-76 có giáp mỏng và được vũ trang không đủ tiêu chuẩn như 1 xe tăng hiện đại như khả năng lội nước của nó lại bù đắp giá trị của những hạn chế này. Nó được sử dụng rất rộng rãi trong quân đội các nước thuộc Liên Bang Soviet các nước thuộc Khối hiệp ước Warsaw và một số quốc gia đồng minh khác của LX. Đã có hơn 7000 xe tăng PT-76 được sản xuất và hơn 2000 chiếc xuất khẩu có hơn 25 quốc gia sử dụng. PT-76 vũ trang súng chính 76mm ovới tầm bắn hiệu quả tối đa độ chừng 1500m. Tổ lái gồm 3 người PT-76 cũng được dùng để vận chuyển bộ binh. PT-76 là loại xe tăng lội nước hạng nhẹ nên thiết kế mũi xe tăng dẹt phẳng có hình dáng như mũi tàu. Xích xe có 6 bánh chạy và không có trục lăn đỡ xích. Tháp pháo hình chóp cụt nằm trên vị trí bánh thứ 2 3 4 có 2 cửa dành cho Xa trưởng và Lính nạp đạn cửa dành cho Lái xe đặt ngay dưới súng chính.

PT-76 được sử dụng như xe tăng trinh sát tiêu chuẩn của quân đội Nga và quân đội Khối hiệp ước Warsaw. Mặc dù sau này nó đã được thay thế ở các đơn vị chủ lực tuyến đầu bời các loại Xe chiến đấu khác như BMP-1 BMP M1976 nhưng nó vẫn được sử dụng ở 1 số đơn vị trinh sát bộ binh hạng nhẹ và các đơn vị đổ bộ đường biển. Bên cạnh vai trò trinh sát nó còn được sử dụng đề vượt qua các chướng ngại vật do đối phương dựng lên trên mặt nước trong đợt tấn công đầu tiên của các cuộc đổ bộ đánh chiếm bãi biển. Động cơ V-6 240 mã lực làm mát bằng nước của PT-76 tạo cho nó tốc độ 44km/h khi tuần tra với quãng đường khoảng 260km hệ thống đẩy thủy lực của nó giúp nó rẽ nước với tốc độ 10km/h trên mặt biển với quãng đường 100km. Súng chính 76mm bắn đạn HVAP HEAT đủ sức chống lại các phương tiện cơ giới bọc thép hạng nhẹ APC (xe bọc thép). PT-76 là 1 phương tiện cơ giới trinh sát đáng tin cậy cơ động cao và là 1 phương tiện cơ giới lội nước hiệu quả nhưng có nhiều hạn chế nếu xét trên phương diện 1 phương tiện cơ giới chiến đấu.

Như hầu hết các loại xe tăng của Liên Xô Sản xuất PT-76 bị hạn chế khả năng hạ thấp súng chính và vì thế nên gây trở ngại cho việc bắn tỉa từ khu đất cao. Kiểu thiết kế lội nước của PT-76 làm kích thước của nó lớn không cần thiết đối với trọng lượng cùa dòng tăng hạng nhẹ dẫn đến làm giảm vỏ thép bảo vệ của nó mỏng hơn các loại tăng hạng nhẹ khác. Chính vì lớp giáp tương đối mỏng cùa PT-76 làm nó rất dễ bị tổn thương bởi mảnh đạn pháo và bởi đạn 50 cal (12 7x99mm). Thêm vào đó chỉ huy vừa là xạ thủ đồng thời vừa là người điều khiển Radio điều này làm hạn chế khả năng quan sát của anh ta. PT-76 cũng bị tụt hậu so với các thế hệ xe cơ giới chiến đấu của Liên Xô bởi ko có thiết bị quan sát ban đêm và hệ thống bảo vệ NBC (hệ thống bảo vệ trước vũ khí hạt nhân sinh học hóa học) cho tổ lái.

Trong chiến tranh Việt Nam PT-76 được Quân đội Nhân dân Việt Nam sử dụng lần đầu tiên ở trận Làng Vây Khe Sanh dùng để bao vây tiêu diệt căn cứ của Lực lượng Đặc biệt Mỹ (SOG) được đồn trú bởi chủ yếu là người Thượng và 24 lính Mỹ. Trong trận Làng Vây PT-76 đã làm tốt vai trò tấn công thọc sâu yểm trợ bộ binh xung phong làm giảm thiểu thương vong đáng kể cho bộ binh gây thiệt hại nặng cho phe phòng thủ (trên 200 Lính đặc nhiệm người Thượng bị tiêu diệt 7 lính Mỹ chết) tuy nhiên phe QĐNDVN cũng chịu thiệt hại nặng là 5 trong số 12 xe bị phá hủy bởi súng không giật DKZ và súng chống tăng M72 LAW nhưng cuộc tấn công đã giành thắng lợi tiêu diệt được cứ điểm Làng Vây. Sau đó PT-76 được QĐNDVN sử dụng rộng rãi suốt cuộc chiến tranh trong các trận đánh hiệp đồng binh chủng PT-76 chỉ tham gia 1 trận đấu tăng duy nhất tại Bến Hét ngày 3/3/1969 gần biên giới Lào trong trận đánh 2 xe tăng PT-76 đã bị bắn cháy bởi 1 xe tăng hạng trung M48A3 của Quân đội Mỹ. Sau này PT-6 được phiên chế vào QĐNDVN thời nay trang bị cho các đơn vị thiết giáp bộ binh cơ giới và Lực lượng Hải quân đánh bộ.



Tượng đài chiến thắng Làng Vây Khe Sanh Quảng Trị



Tranh vẽ về trận Làng Vây

Nguồn: Vietnam Defence Millitary Technology and News _ Diễn đàn Khoa học Kỹ thuật Quân sự và Quốc phòng

More...

Lực lượng tăng – thiết giáp Việt Nam: Các loại thiết giáp bánh hơi

By phuctrinh

Lực lượng tăng – thiết giáp Việt Nam: Các loại thiết giáp bánh hơi
27.03.2008 07:06

 
Thiết giáp bánh hơi phục vụ tích cực trong đội hình lực lượng tăng thiết giáp Việt Nam với khả năng cơ động cao linh hoạt. Số lượng chiếm gần nữa trong tổng số Tăng thiết giáp hiện có của Việt Nam bao gồm rất nhiều loại




Loại: Xe thiết giáp sử dụng bánh hơi
Nước SX: Liên Xô
Nặng: 5.3 tấn
Dài: 5 m
Rộng: 1.9 m
Cao: 1.83 m
Tổ lái: 2 người + 8 lính
Giáp: 6-8 mm
Vũ khí: 3 súng máy 7.62 mm
Động cơ: GAZ-40
78 mã lực (58 kW)
Tầm hoạt động: 285 km
TỐc độ: 80 km/h

Xe thiết giáp BTR-40 là loại xe thiết giáp chở lính và trinh sát cuả quân đội Liên Xô phát triển bởi V. A. Dedkov được thiết kế dưạ trên mẫu BTR-141 trong thế chiến thứ 2 và được sản xuất tại hãng Gorkovsky Avtomobilny Zavod từ 1950 tới 1958. Xe có 2 cưả hông dành cho xa trưởng và lái xe và 1 cưả sau ở đuôi khoang chở lính có thể chở 8 binh sĩ. BTR-40 được sử dụng làm xe thiết giáp chở lính trinh sát tuần tra và công tác chỉ huy. Nó không có hệ thống bảo vệ NBC và thiết bị nhìn đêm. Việt Nam sử dụng loại BTR-40A có vũ trang 1 súng phòng không KPV 14 5mm nòng đôi và được sử dụng như xe phòng không. Việt Nam cũng cải tiến BTR-40 thành xe phóng từ để phá bom từ trường trong chiến tranh chống Mỹ. Hiện nay BTR-40 đã hầu như không còn phục vụ trong lực lượng thiết giáp Việt Nam.







Loại:Xe thiết giáp sử dụng bánh hơi
Nước SX: Liên Xô
Nặng: 9.91 tấn
Dài: 6.83 m
Rộng: 2.32 m
Cao: 2.36 m
Tổ lái 2 người (+17 lính)
Giáp: 4–15 mm
Vũ khí: 2 Súng máy 7.62mm hoặc 1 súng máy 12.7mm +1 súng 7 62mm
Động cơ: ZIS-123 6 cylinder Xăng làm mát bằng nước 110 mã lực
Tầm hoạt động: 650 km
Tốc độ: 65 km/h

Xe thiết giáp BTR-152 là loại xe thiết giáp chở quân chạy bằng bánh cuả Liên Xô được sản xuất vào những năm 1950. Cấu trúc thân xe là cấu trúc hàn động cơ và bộ phận điểu khiển vận hành đặt ở trước xe. Tổ lái gồm Lái xe phụ lái và có khoang chở 17 lính ở sau xe. Xe chạy bằng 6 bánh cao su lốp xe có bộ phận giảm xóc để giúp tổ lái không bị mệt mỏi khi chạy trên điạ hình xấu vũ khí chính là 1 súng máy 7 62mm nhưng tùy theo phiên bản nó còn được trang bị súng phòng không 14 5mm và 23mm. Mẫu BTR-152 V3 được trang bị cả đèn hồng ngoại nhìn đêm. Xe có các cửa quan sát giúp cho binh lính có thể chiên đấu từ trong xe. BTR-152 chấm dứt sản xuất vào năm 1960 và sau đó được thay thế bằng BTR-60 nhưng nó vẫn được nhiều nước trên thế giới sử dụng trong đó có Việt Nam.



THÔNG SỐ KỸ THUẬT

Loại: Xe thiết giáp chạy bằng bánh hơi
Nước SX: Liên Xô
Nặng: 10.1 tấn (BTR-60P)
11.1 tấn (BTR-60PA)
11.4 tấn (BTR-60PB)
Dài: 7.56 m
Rộng: 2.825 m
Cao: 2.06 m
2.31 m (BTR-60PAI BTR-60PB BTR-60PBK và BTR-60PZ)
Tổ lái: 2 + 16 lính (BTR-60P)
2 + 14 lính (BTR-60PA)
3 + 14 lính (BTR-60PAI BTR-60PB và BTR-60PZ)
Giáp: Dày nhất 9mm ở thân xe
7mm ở tháp pháo
Vũ khí: 1 đại liên 12 7mm hoặc 14 5mm trên tháp pháo+ 2 súng 7 62mm
Động cơ: 2 động cơ 6-cyl. khí đốt GAZ-49 từ 94 mã lực đến 115 mã lực tùy phiên bản
Tầm hoạt động: 500km
Tốc độ:80km/h trên cạn
10km/h dưới nước

Xe thiết giáp BTR-60 là mẫu thiết giáp chạy bằng 8 bánh đầu tiên cuả Liên Xô được phát triển vào cuối những năm 1950 để thay thế xe thiết giáp BTR-152 và được ra mắt vào năm 1961. Nó liên tục được cải tiến và mẫu cải tiến cuối cùng là BTR-60PB sau cùng được thay thế bởi mẫu BTR-70. Về số lượng thì BTR-60 là xe thiết giáp có vai trò quan trọng nhất trong quân đội Liên Xô. BTR-60 được xuất khẩu với số lượng lớn sang các nước Đông Đức Bulgaria và Romania. BTR-60 là loại xe thiết giáp chủ lực cuả lực lượng Hải quân đánh bộ Liên Xô.




BTR-60PB thể hiện tính năng di chuyển tốt trên đường gồ ghề. Hình dạng thân xe giống như mũi thuyền với 2 bên sườn xe nghiêng giúp xe có khả nặng lội nước tốt và làm chệch hướng bắn cuả đầu đạn đối phương. BTR-60PB còn có thiết bị nhìn đêm hồng ngoại cung cấp khả năng tác chiến ban đêm.

Xe chạy bằng 8 bánh cao su thân xe được kết cấu bằng thép hàn với hình dạng hình thân thuyền giáp bọc 2 bên sườn xe mũi xe đều có độ nghiêng. Vị trí cuả Tổ lái được bố trí ở phần đầu xe khoang chở lính bố trí ở giữa thân xe còn Khoang động cơ bố trí ở sau đuôi xe. Khoang chở lính được bao bọc kín bởi giáp trên nóc xe và có 1 tháp pháo nhỏ 1 người cùng loại với tháp pháo gắn trên xe BRDM-2 trên tháo pháo có gắn 1 súng phòng không 14 5mm KPV và 1 đại liên đồng trục 7 62mm bên phải và kính tiềm vọng gắn bên trái tháp pháo. Tổ lái sử dụng 2 cửa trên thân xe nằm trước tháp pháo còn 2 cửa sau tháp pháo dành cho lính bộ binh. Mỗi bên sườn xe có đặt 3 lỗ châu mai để bộ binh chiến đấu từ trong xe.

Lốp xe có bộ phận giảm xóc và được viền cao su. 4 bánh đầu là bánhh truyền động và định hướng. Thiết bị truyền động là 1 cặp động cơ 6 xilanh chạy bằng khí đốt đặt ở sau thân xe. Trục xe thứ 1 và thứ 3 được truyền động bởi động cơ bên phải trục thứ 2 và thứ 4 được truyền động bởi động cơ bên trái. BTR-60 có khả năng lội nước bằng 2 ống đẫy thủy lực đặt sau đuôi xe.

Mặc dù BTR-60 có giáp dày hơn các loại xe thiết giáp thông thường khác nhưng lại rất dễ bị tổn thương bởi đạn HE (High Explosive) cũng như vũ khí cá nhân lốp xe cũng rất dễ bị thủng bởi đạn súng bộ binh. Các thiết bị bọc giáp mỏng cuả xe (bình nhiên liệu đèn...) rất dễ bị phá huỷ trước sức công phá cuả pháo mặt đất. Hơn nữa sự bố trí các cưả ra vào và cưả quan sát làm bộ binh rất dễ bị tổn thương trước đạn cuả quân địch.
BTR-60 được sử dụng trong các cuộc chiến tranh Yom Kippur War năm 1971 giưã Israel và các nước Ả Rập chiến tranh Ấn Độ-Pakistan chiến tranh cuả Liên Xô tại Afghanistan chiến tranh Checchen..

Hiện nay quân đội VN có khoảng 400 xe BTR-60 và nó là xe thiết giáp chủ lực cuả lực lượng Hải quân đánh bộ VN.







THÔNG SỐ KỸ THUẬT

Loại: Xe thiết giáp trinh sát
Nước SX: Liên Xô
Nặng: 7 tấn
Dài: 5.75 m
Rộng: 2.35 m
Cao: 2.31 m
Tổ lái: 4 người (driver co-driver commander gunner)
Giáp: 14 mm
Vũ khí: Súng phòng không 14.5mm KPVT
Súng máy 7.62mm PKT
Động cơ: GAZ-41 khí đốt 140 mã lực (104 kW)
Tầm hoạt động: 750 km
Tốc độ: 95 km/h

Xe thiết giáp trinh sát BRDM-2 được Liên Xô chế tạo để đáp ứng nhu cầu cải thiện hỏa lực mạnh cho các xe thiết giáp trinh sát lội nước. BRDM-2 được cải tiến so với BRDM-1 bằng động cơ mạnh hơn và lắp đặt sau xe gắn thêm 1 tháp pháo loại cuả BTR-60 có trang bị 1 súng phòng không 14 5mm KPV. BRDM-2 ra mắt vào năm 1966 và được các nước trong hiệp ước Warsaw sử dụng thay thế loại BRDM-1 cũ nó có khả năng lội nước bằng ống đẩy thuỷ lực đặt sau đuôi xe.



Giáp cuả BRDM-2 chỗ dày nhất 14mm rất dễ bị tổn thương bởi mảnh pháo hay đạn 12 7mm. Lốp xe không có giáp bảo vệ nên rất dễ bị chọc thủng bời đạn cuả đối phương. BRDM-2 cũng tương tự như BRDM-1 cũng có 2 bánh xe nhỏ dưới bụng hỗ trợ khi vượt qua đồi núi có bộ phận giảm xóc ở lốp xe. Thân xe cuả BRDM-2 lớn hơn và khoang động cơ lớn hơn BRDM-1 đặt ở sau xe. BRDM-2 còn được gắn đèn hồng ngoại nhìn đêm và hệ thống bảo vệ NBC.


Nguồn: Vietnam Defence Millitary Technology and News _ Diễn đàn Khoa học Kỹ thuật Quân sự và Quốc phòng

More...

... - BÀI HỌC TỪ LÀNG VÂY

By phuctrinh

40 NĂM CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN 1968: SÁNG TẠO BÍ MẬT BẤT NGỜ - BÀI HỌC TỪ LÀNG VÂY

Ngày 17/1/2008. Cập nhật lúc 10h 39

More...

Xe tăng chủ lực của Việt Nam -T-54

By phuctrinh

Xe tăng chủ lực của Việt Nam -T-54
31.07.2007 23:48

Xem hình
 

Tương tự như súng AK dòng tăng T-54 là dòng xe tăng phổ biến nhất trên thế giới cho đến đầu thế kỷ 21 rất nhiều nước trên thế giới vẫn còn dùng T-54/55 và vẫn còn tiếp tục cải tiến. Việt Nam là nước sử dụng T-54 từ rất sớm khi nó còn là một trong những xe tăng chủ lực đáng gờm nhất trên thế giới.

T-54 và T-55 là tên gọi một thế hệ xe tăng sản xuất tại Liên Xô và trang bị cho quân đội nước này từ năm 1947 đến 1962. Đây là mẫu xe tăng sản xuất nhiều nhất với tổng số 95.000 xe xuất xưởng (bao gồm cả sản xuất tại nước ngoài với tên gọi khác).



Cách bố trí của T-54 theo kiểu xe tăng quy ước với vũ khí chính gồm một khẩu súng có rãnh xoắn 100mm. T54 được sử dụng nhiều hơn bất kỳ một loại tăng nào khác từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. T-55 gồm một khẩu súng tốc độ cao với nòng súng dài khác thường. T-55 có bánh xích chasis năm bánh với một thân ngắn và tháp pháo hình tròn. Tăng T-54 xuất hiện lần đầu năm 1949 như loại thay thế cho chiếc T-34 thời thế chiến II.



T-54 liên tục được sửa đổi và cải tiến và sau khi đã được sửa khá nhiều nó được đổi tên thành T-55. T-55 ra mắt vào năm 1958 và có đầy đủ mọi sự tinh xảo và cải tiến của serie T-54 mà không có khác biệt căn bản trong thiết kế và hay vẻ ngoài. T-55A xuất hiện đầu thập kỷ 1960. Sự sản xuất loại xe này tiếp tục đến tận năm 1981 ở Liên Xô và cũng được sản xuất ở Trung Quốc (kiểu 59) Tiệp Khắc và Ba Lan.


Một số lượng lớn loại này vẫn còn được sử dụng mặc dù đến thập kỷ 1980 T-54/55 đã bị thay thế bằng loại T-62 T-64 và T-80 trong vai trò loại tăng chủ yếu tại các đơn vị xe tăng và pháo tự hành của Liên Xô. Được sử dụng trong cuộc xâm chiếm Hungary năm 1956 Tiệp Khắc năm 1968 và Syria năm 1970 nó là loại tăng chính của các nước Ả Rập trong cuộc chiến 1967 và 1973 với Israel. Trong thập kỷ 1970 T-54 tham chiến ở Việt Nam Cambodia và Uganda.

Xe tăng hạng trung T-55 chạy bánh xích chasis năm bánh với một khoảng không gian giữa bánh thứ nhất và bánh thứ hai và không có những trục lăn hồi chuyển. Nó có thân ngắn tháp pháo hình vòm nằm bên trên bánh xe thứ ba. Súng chính có rãnh xoắn cỡ 100mm và có một lỗ thoát hiểm ở gần chân nòng. Một súng máy đồng trục A7.62mm và một súng máy 7.62mm di chuyển vòng cung. Các mẫu T-55A về sau này không được trang bị súng đó. T-55 được phân biệt với T-54 vì nó không có vòm ở bên phải và quạt thông gió của tháp pháo được lắp phía trước so với quạt thông gió của T-54 và tất cả các mẫu T-55 đều có một bộ phận tìm kiếm ánh sáng hồng ngoại dành cho pháo thủ lắp bên phải súng chính. Tuy nhiên bộ phận tìm kiếm ánh sáng này không phải là một đặc điểm phân biệt bởi vì nó cũng được trang bị thêm cho nhiều mẫu T-54 và T-54A.

KHẢ NĂNG

T-55 kết hợp một súng tốc độ cao với một chassis rất cơ động một thân ngắn và nòng rất dài. Các cải tiến so với loại T-54 gồm động cơ diesel V12 làm mát bằng nước lớn hơn với 580 sức ngựa so với 520 sức ngựa tăng tầm hoạt động lên 500km (lên tới 715km với hai bình xăng phụ mỗi bình 200 lít). T-55 cũng có hai cái ổn định hai cánh (two-plane) chứ không chỉ có cái ổn định dọc một lần nạp đạn cho súng chính được 43 viên thay vì chỉ 34 viên. T-55 có thể lội qua độ sâu 1.4m mà không cần chuẩn bị trước có thiết bị thông hơi cho phép nó vượt qua độ sâu lên đến 5.5m với tốc độ 2 km/giờ. Thiết bị này cần phải được chuẩn bị trước từ 15 đến 30 phút nhưng có thể được vứt bỏ ngay sau khi ra khỏi nước.

Tất cả các xe T55 đều có hệ thống dò tìm bức xạ PAZ và T-55A cũng có thiết bị chống bức xạ. Một số chiếc T-55 được trang bị một hệ thống bảo vệ tổng thể NBC (lọc không khí và quá áp suất). Một màn khói dày có thể được tạo ra bằng cách phun nhiên liệu diesel bay hơi vào một hệ thống hút khí. Những chiếc T-55 có “áo giáp yếm” áo giáp bán nguyệt lắp thêm có lớp bảo vệ tháp pháo tăng cường lên đến 330mm (KE) và 400-450mm (CE).

Một số cải tiến khác có thể được trang bị thêm gồm một đáy vỏ được tăng cường chống mìn động cơ tốt hơn xích bằng các miếng cao su và ống bọc nhiệt cho súng. Ống nhòm 1K13 vừa dùng để quan sát ban đêm vừa quan sát bệ phóng ATGM; tuy nhiên nó không thể được dùng cho cả hai mục đích cùng một lúc. Các kiểu ống ngắm có thể lựa chọn và hệ thống kiểm soát lửa gồm cả El-Op Red Tiger của Israel và Matador FCS ống nhòm NobelTech T-series của Thuỵ Điển và Atlas MOLF của Đức. SUV-T55A FCS của Nam Tư Marconi Digital FCS của Anh SABCA Titan của Bỉ cho phép nâng cấp hoạt động. Một trong những cái tốt nhất là cái EFCS-3 của Slovenia được tích hợp với FCS. Rất nhiều kiểu ống ngắm nhiệt khác cũng có thể được trang bị. Gồm cả ống ngắm Nga/Pháp ALIS và Namut-type của Peleng. Có nhiều kiểu ống ngắm nhiệt có thể được trang bị cho phép phóng ATGM vào buổi tối. Hệ thống bảo vệ hoạt động tích cực (APS) đầu tiên được gọi là Drozd được phát triển ở Liên Xô giữa 1977 và 1982. Hệ thống này được lắp đặt trên khoảng 250 chiếc T-55A của cả thuỷ và bộ binh (sau đó được đổi tên thành T55AD) vào đầu những năm 1980 và được thiết kế để bảo vệ khỏi ATGM và lựu đạn chống tăng. Nó sử dụng các cảm biến vi sóng radar đầu tiên ở mỗi bên tháp pháo để dò tìm đạn đang bay đến. Một máy lọc bên trong bộ xử lý radar được dùng để đảm bảo rằng hệ thống chỉ phản ứng lại với các mục tiêu đang bay ở tốc độ đặc trưng của ATGM. Những mục tiêu đó sẽ bị một hay nhiều rocket có mang các đầu đạn nhiều mảnh (giống với đạn súng cối) được bắn ra từ bốn ống phóng xung quanh (mỗi phía của tháp pháo có một ống). Drozd chỉ cung cấp sự bảo vệ hướng ra phía trước 600 ở phần tháp pháo hai bên cạnh và phía sau có thể bị tấn công. Kíp lái có thể thay đổi hướng của hệ thống bằng cách quay tháp pháo. Drozd bị tổn hại vì nhiều thiếu sót. Radar của nó không thể xác định đe doạ ở nhiều mức góc nâng một cách thoả đáng và các rocket phòng vệ hầu như chắc chắn gây ra tổn hại ở mức độ không thể chấp nhận được ở hai bên - đặc biệt là đối với bộ binh đi theo.



NHỮNG HẠN CHẾ

T-55 hiệu quả nhất khi chống lại các phương tiện bọc thép nhẹ và trung bình. Đạn nạp căn bản cho súng chính là 43 viên. Các đơn vị nhiên liệu bên ngoài làm cho xe rất dễ bị tổn hại vì nó được bảo vệ bằng vỏ thép mỏng. T-55 có khả năng hạn chế trong việc hạ súng chính gây trở ngại cho xe trong việc bắn tỉa từ trên khu đất cao. Hơn nữa ống ngắm đầu tiên của pháo thủ lại bị gắn với súng chính không cho phép pháo thủ kiếm được các mục tiêu được bố trí dấu kín thân xe. Mặc dù tháp pháo hình nửa quả trứng của T-55 có các tính chất tốt của hình cầu nó cản trở điều kiện làm việc của kíp lái dẫn tới mức độ bắn thấp; và sự bảo vệ nhờ vào thân ngắn của nó (ngắn hơn 1m so với M60) lại làm cho mất thăng bằng vì sự bảo vệ vỏ thép kém của nó so với các tiêu chuẩn phương tây. Theo cùng một tiêu chuẩn thiết bị kiểm soát súng của nó cũng còn thô thiển. Nó cũng có bất lợi của đa phần xe tăng Xô viết là có khả năng kém về hạ thấp nòng chính vì thế không thể có khả năng bắn hiệu quả theo kiểu bắn tỉa mà bắt buộc phải thò cả thân ra để chiến đấu. Vũ khí và nhiên liệu được bố trí ở vị trí kém. Việc thiếu cái rổ tháp pháo làm cho việc nạp đạn khó khăn và vì thế đạn dược sẵn sàng kém. Người lái chỉ huy và pháo thủ tất cả đều trên một hàng. T-55 không kín không khí. Dù các thành viên kíp lái được bảo vệ khỏi bụi phóng xạ bởi một hệ thống lọc họ bắt buộc phải đeo mặt nạ bảo vệ cá nhân và mặc đồ chống chất hoá học và sinh học. Xe tăng vì thế phải đi qua những vùng bị ô nhiễm nhanh chóng và sau đó lại phải được tẩy rửa trước khi hoạt động trở lại. Xe tăng có thể được chế tạo kín nước để vượt qua chướng ngại nước với độ sâu lên đến 1 4m (5 5m với ống thông hơi). Tuy nhiên có thể mất đến nửa giờ để chuẩn bị một đơn vị tăng trung bình để hoạt động được và điểm vào và ra cũng cần được chuẩn bị.


CÁC BIẾN THỂ

Tăng T-54/55 từng được chế tạo với số lượng lớn nhất so với bất kỳ loại tăng nào khác trên thế giới. Sáu kiểu chính đã được sử dụng rộng rãi tại các nước thuộc khối Hiệp ước Warsaw và nhiều nước khác. Các mẫu T-54/55 từng được chế tạo tại Tiệp Khắc và Ba Lan cũng như ở Trung Quốc nơi nó được gọi là Kiểu 59. Hơn mười hai nước đã chế tạo các biến thể cải tiến của T-55 với khả năng bảo vệ và khả năng tấn công gần tương tự. Nhiều nước đã nâng cấp cho nó với súng chính lớn hơn.



* T-54: Có nhiều khác biệt giữa xe T-54 thời kỳ đầu và thời kỳ sau một số chiếc có giáp rộng hơn và tháp pháo bị cắt ngắn ở bên cạnh. Thỉnh thoảng chúng được coi là T-54 (1949) T-54 (1951) và T-54 (1953).

* T-54A: Kiểu này có máy hút khói cho súng 100mm hệ thống ổn định và thiết bị lội sâu.
* T-54AK: Tăng chỉ huy (Kiểu của Ba Lan là T-54AD). Có thêm radio và tầm hoạt động của radio là 100 dặm.

* T-54M: T-54 được nâng cấp theo tiêu chuẩn của T55M.

* T-54B: Kiểu đầu tiên có thiết bị quan sát hồng ngoại ban đêm. Đây là kiểu được sử dụng ở những nước trên.

* T-55: T-54 với tháp pháo mới và nhiều cải tiến các kiểu được chế tạo về sau này có một súng 12.7mm AA MG. Các cải tiến từ kiểu T-54 gồm một động cơ diesel làm mát bằng nước V12 lớn hơn và tầm hoạt động rộng hơn 500 thay vì 400km (600 với các xe tăng bổ trợ). Tầm hoạt động có thể tăng lên đến 715km với hai bình xăng phụ 200 lít ở hai bên xe. T-55 có tháp pháo hoàn toàn khác so với T-54 sự khác biệt dễ nhận thấy nhất là T-55 không có quạt gió nóc và thay vào đó là hai thanh nóc hình chữ D. Các xe T-55 đầu tiên cũng không có máy nạp đạn cho súng 12.7mm DShK AA MG cửa sập của máy nạp đạn hơi thò lên hay không thò lên khỏi xung quanh lớp giáp.

* T-55A được thêm hệ thống bảo vệ NBC. T-55A sử dụng một lớp chống bức xạ mới và hệ thống lọc hoá chất PAZ/FVU được cải tiến trên cùng tháp pháo. Lớp chống bức xạ làm tháp pháo dày hơn và không bằng với bề mặt tháp pháo. Các chi tiết đáng chú ý là sự chải lớn hơn ở cửa của chỉ huy và pháo thủ và một chỗ phồng lớn ở cửa người lái. T-55A Kiểu 1970 bắt đầu có súng 12.7mm nhưng ở vị trí khác với T54.


* T-55AM có thêm vỏ yếm một vỏ bọc quanh tháp pháo và bảo vệ 180°. Sự gọi tên T-55AM thỉnh thoảng cũng dùng cho T-55A với súng 12.7mm DShK MG.


* T-55AM2B: Kiểu T55AMV của người Séc với kiểm soát lửa Kladivo.
* T-55AM2: Biến thể không có khả năng ATGM hay Volna FCS.
* T-55AM2P: Kiểu T55AMV của người Ba Lan nhưng có thêm Merida FCS.
* T-55AMD: Biến thể với Drozd APS thay vì ERA.
* T-55AD Drozd: Biến thể với Drozd chứ không phải Volna FCS và ERA.

T-55AMV Phiên bản AMV cải tiến thay thế ERA cho lớp yếm bảo vệ. Các phiên bản kết thúc với việc thay thế động cơ w/V-46 engine từ chiếc T-72 MBT. Ukraina và Syria sẽ cải tiến theo tiêu chuẩn của T-55AMV.




(Theo wikipedia)
Nguồn: Vietnam Defence- Trang Thông tin KHKT Quân sự và Quốc phòng- http://vndefence.info/modules.php?name=News&op=viewst&sid=193 

More...

Lịch sử Binh chủng Tăng - Thiết giáp

By phuctrinh

Lịch sử Binh chủng Tăng - Thiết giáp
28.04.2007 17:26

Xem hình
Tiến vào dinh Độc Lập

Ngày 5 tháng 10 năm 1959 trung đoàn xe tăng đầu tiên Trung đoàn 202 trực thuộc Bộ Tổng Tư lệnh được thành lập. Ngày này nay đã trở thành ngày truyền thống của Binh chủng Tăng - Thiết giáp.

Ngày 22 tháng 6 năm 1965 Bộ Tư lệnh Thiết giáp được thành lập đánh dấu sự ra đời của một binh chủng mới trong Quân đội Nhân dân Việt Nam đồng thời thành lập trung đoàn xe tăng 203. Quyền Tư lệnh đầu tiên: Đào Huy Vũ (1965-1970) Chính ủy đầu tiên: Lê Ngọc Quang.
Ngày 18 tháng 11 năm 1971 thành lập trung đoàn xe tăng 201.
Từ năm 1973 trở đi thành lập các trung đoàn lữ đoàn xe tăng trực thuộc các quân đoàn quân khu.

 

Trang thiết bị
Binh chủng Tăng - Thiết giáp được trang bị các loại xe chiến đấu sau :
Xe tăng chủ lực (MBT) T-54/55 T-62 của Liên Xô; T-59 (Type-59) của Trung Quốc. Đang đặt mua 120 T-72.
Xe tăng lội nước PT-76 của Nga; PT-85 hay K-63-85 (Type-63) của Trung Quốc.
Xe thiết giáp chiến đấu của bộ binh BMP-1/2 của Nga.
Xe thiết giáp trinh sát BRDM-1/2 của Nga.
Xe thiết giáp chở quân BTR-40/50/60/152 của Nga; M-113 M114 của Mỹ; K-63 (Type-63) của Trung Quốc.

Chỉ huy và Lãnh đạo qua các thời kỳ
Tư lệnh binh chủng
1965-1970: Đào Huy Vũ Quyền Tư lệnh đại tá
1970-1974: Nguyễn Thế Lâm thiếu tướng (1974)
1974-1980: Đào Huy Vũ thiếu tướng (1979)
...
1993-2002: Đoàn Sinh Hưởng đại tá (1988) trung tướng tư lệnh quân khu
2002- : Lê Xuân Tấu thiếu tướng (2003)
... đến nay: Vũ Bá Đăng thiếu tướng

Nguồn: Vietnam Defence- Trang Thông tin KHKT Quân sự và Quốc phòng- http://vndefence.info/modules.php?name=News&op=viewst&sid=10

 

More...

Trang bị lực lượng Tăng – Thiết giáp Việt Nam

By phuctrinh

Trang bị lực lượng Tăng – thiết giáp Việt Nam
29.07.2007 23:37

Xem hình
 

Vào năm 1952 một vài cán bộ Việt Minh được cử qua Trung Quốc để học về binh chủng tăng-thiết giáp tuy nhiên họ không được dùng để xây dựng lực lượng thiết giáp mà được giao nhiệm nghiên cứu chiến thuật chống lại xe tăng pháp là chủ yếu vì Việt Minh lúc đó chưa có điều kiện thành lập binh chủng thiết giáp

Sau trận Điện Biên Phủ Việt Minh thu được ít nhất là 2 xe tăng M-24 còn dùng được. Tuy vậy chúng không dùng để chiến đấu mà dùng làm công tác tuyên truyền.

QDNĐVN được trang bị lại và phát triển vượt bậc vào những năm 1955-1960. Để tăng cường khả năng bảo vệ miền Bắc XHCN ta nhận thấy rằng việc xây dựng lực lượng thiết giáp là rất cần thiết. Vào năm 1956 một đại đội thiết giáp được thành lập được trang bị xe thiết giáp M-8 và M-3 của Mỹ (có lẽ xe chiến lợi phẩm của Pháp). Lực lượng thiết giáp này được biên chế thành những trung đội bảo vệ sân bay. Bên cạnh đó QDNĐVN cũng tăng cường lực lượng chống tăng bằng các tiểu đoàn pháo chống tăng của Nga (57mm) và Đức (PAK 40 75 mm)

More...

Quỳnh đi đón tướng

By phuctrinh

Bùi Ngọc Quỳnh lớp tôi có tài xuất khẩu thành thơ. Tôi nhớ hồi ở làng Quế hôm ấy trên thông báo xuống yêu cầu cả lớp chuẩn bị để hôm sau đi đón một vị tướng đến thăm trường. Lưu ý là phải đi giày. Mỗi thằng mới được phát một đôi giày vải kèm theo qui định hàng ngày phải đi giày. Trước đó chúng tôi toàn đi dép cao su. Chả hiểu thế nào giày của bố Quỳnh nhà ta ướt sũng. Lão lúi húi trong bếp. Một lúc sau Quỳnh đi ra nhà ngoài tay cầm đôi giày mặt đen và gầy chỉ được cái răng trắng. Lão cười hồn hậu và lên giọng:

Việc quân cơ tuy bận
Nhưng vẫn cố rút ra
Hơ đồi giày qua loa
Ngày mai đi đón tướng

Nhìn điệu bộ và giọng diễn của Quỳnh nhất là ý tứ bài thơ xuất thần của anh bọn tôi ôm bụng mà cười.
Anh Quỳnh hay làm thơ hát hay và nhất là hay thổi sáo miệng Bài ca hy vọng nghe thích lắm. Năm 81 tôi có gặp lại Quỳnh ở Xuân Mai Hòa Bình. Ra trường về công tác ở Lữ 201 tôi không nhớ anh phụ trách gì nhưng sau 5 6 năm thấy vẫn lẹt đẹt lắm. Không biết bây giờ anh ở đâu chắc đã nghỉ hưu về quê.

Trở lại xem bài Anh cứ cười trong chủ đề Thơ.

More...

Năm anh em trên một chiếc xe tăng

By phuctrinh

Nhạc: Doãn Nho - Thơ: Hữu Thỉnh
Thể hiện: Tốp Nam


Năm anh em trên một chiếc xe tăng
Như năm bông hoa nở cùng một cội
Như năm ngón tay trên một bàn tay
Đã xung trận là năm người như một... à há

Vào lính xe tăng anh trước anh sau
Cái nết ở ăn mỗi người một tính
Nhưng khi hát là hòa cùng một nhịp
Một người đau là tất cả quên ăn

Năm anh em mỗi đứa một quê
Đã lên xe ấy là cùng một hướng
Nổ máy lên ta một dạ xung phong
Trước quân thù là chỉ biết có tiến công

Năm anh em ta mang năm cái tên
Ấy khi lên xe không còn tên riêng nữa
Trên tháp pháo một ngôi sao màu lửa
Năm quả tim chung nhịp đập rộn ràng

Một con đường đất đỏ như son
Một màu rừng xanh bạt ngàn hy vọng
Một ý chí bay qua đầu ngọn sóng
Một niềm tin tất thắng trong trận này...
                                               ... à há ...

Chuyện về mấy chàng lính tăng chúng tôi
     

Đầu tháng 10/2007 một nhóm cựu học viên lớp ĐK2 chúng tôi rủ nhau về thăm nơi đóng quân cũ. Đó là Làng Quế một làng quê đặc trưng của vùng trung du thuộc xã Hướng Đạo (Tam Dương Vĩnh Phúc).
Trường Sĩ quan Thiết giáp (gọi tắt thời chiến là T600) thành lập năm 1973 đóng quân ở Khu vực Kim Long Hướng Đạo. Từ cây số 8 đường đi Tam Đảo rẽ tay trái đi vào từ 3 đến 5 km là khu vực trường. Khu Hiệu bộ giảng đường các tiểu đoàn đào tạo bệnh xá đại đội sửa chữa bãi tập ... nằm rải rác trên những quả đồi bát úp trồng bạch đàn sắn. Ngày ấy ... Các bạn xem tiếp bài viết "Về thăm làng Quế"
và trích đoạn phim "Về thăm làng Quế": Ghi chép của Phúc Trinh từ Tp. Hồ Chí Minh Hà Nội Hưng Yên Hải Phòng đến Kim Long Vĩnh Phúc cùng các anh Thạo Mỡn Lập Tạo Lựu - cựu học viên lớp ĐK2 Khóa I Trường Sĩ Quan Thiết Giáp.

Khi vào xem video clips nếu tốc độ đường truyền chậm phim bị ngắt quãng ngập ngừng các bạn hãy bấm dừng phim sẽ tiếp tục được tải xuống đầy đủ. Trong khi chờ đợi các bạn có thể vào site khác sau đó trở lại nhấn play để xem phim liền mạch.

Trong bài là một số hình ảnh trong phim "Về thăm làng Quế"

More...