Mục tiêu bên trái

By phuctrinh

Chuyện vui kháng chiến

Đọc bài "Cho em mượn áo mưa" và "Ai bảo cô ngồi thẳng ngòi với nó ?" của
Nguyễn Đức Đát thấy mọi người bàn tán rôm rả. Tôi xin góp vui chuyện này (vì nó dính dáng đến súng ống ...).

Mục tiêu bên trái 

Ngày trước lính hay chế các khẩu lệnh. Đại loại như: "Mục tiêu bên trái con gái đi đường sắc đẹp bình thường hai lồi một lõm ĐKZ đạn nổ ngòi tức thì thước tầm sáu năm mươi độ hướng ba mươi không ba mươi không vật chuẩn ba. Bắn!”. ĐKZ. Câu này chắc có từ thời chống Tây không biết nguyên bản của nó thế nào.
Hồi mới nhập ngũ lính tăng tụi tôi ngồi trong xe tập bắn pháo. Tập nguội. Xe đậu trên đồi bạch đàn nòng pháo ngỏng lên. Trưởng xe hô: “Tăng trong hầm đạn xuyên 800 mét. Dừng. Bắn!”. Nghe rõ chỉ thị về mục tiêu loại đạn cự ly công thức pháo thủ tác nghiệp quay pháo rào rào. Chợt trưởng xe phát hiện thấy “mục tiêu bên trái” là các cô em thôn nữ đi làm ngang qua bãi tập. Hắn hô: “Tăng trong quần đạn xuyên đầu tù có khấc hành tiến à giáp lá cà ... à ... à. Bắn ... ắn!”. Mấy cô em giật bắn mình vì tiếng hô sang sảng quyết chiến lại thấy cái nòng pháo vừa to vừa dài hướng vào mình đâm hoảng ré lên ù té chạy.
Chúng tôi đóng quân trong xóm. Chiều về mấy cô lân la hỏi thăm: “Sao xe trùm bạt mà các anh lại thấy bọn em”. Mấy chàng hồ hởi nổ: “Thấy hết kính xe tăng là thấy hết vỏ thép còn nhìn xuyên qua được vải bạt ăn thua gì”
Những ngày sau mấy em che nón len lén đi nhẹ nói khẽ mãi dưới ven đồi. Lính xe tăng vẫn thấy hết.

More...

Đâu phải

By phuctrinh

Đâu phải 

Đâu phải là không nhớ thương em
Tháng năm dài chưa muốn mong quên
Cánh áo em mang hồng đêm ấy
Thành lửa bay về đốt cháy từng đêm

More...

trong giá trắng ngần

By phuctrinh

trong giá trắng ngần 

              " Ngày mai trong giá trắng ngần "

 
Nỗi đau xưa ai khóc mấy lần ?
Ai đêm dài thương cánh hoa xuân ?
Ai tin hoa ấy yêu hoa ấy ?
Để hôm nay ai khóc mấy lần ?

  

Em em ơi đừng bao giờ giận
Anh không làm sai chữ mến thân
Trong tim em "anh vào vô tận"
Nơi hồn em "trong giá trắng ngần"


Ảnh minh họa: Nguồn Thái Phiên Website

More...

Nâng niu

By phuctrinh

Nâng niu 


Từ lâu rồi đã bao đêm anh thức
Tâm sự cùng em (nhưng chỉ mình anh)
Anh đã nuôi những niềm vui mỏng manh
Những sợi lửa trong hồn anh nhảy múa

Nhớ không em lần nào hai đứa
Dắt nhau đi đi giữa rừng xanh
Qua bao nhiêu con suối xanh xanh
Suối cứ cười rừng cứ reo vui quá

Qua suối nhỏ trượt chân em ngã
Anh cũng cười "mà thương quá đi thôi"
Nhìn anh em lắc đầu hờn dỗi
Ứ thôi nào đi nữa em ơi
Có gì em nảy nở sinh sôi
Mà cái chim rừng hót nghe hay thế
Hát hộ anh đi cái chim be bé
"Chưa có bao giờ đẹp như hôm nay"
Ôi đường đi như tỉnh như say
"Dễ chịu quá như ngày đầu tiên ấy"

Anh nhìn em em ơi có thấy
Xung quanh em là một rừng hoa
Ngay bên em là một bản tình ca
Là anh
Là ngày mai ...
Sáng mãi

Nhớ chăng em hoa nào anh hái
Ôm vào lòng đẹp lắm ơi hoa

Đi đi em không sợ đường xa
Khi ta nghe muôn ngàn câu hát
Khi ta thấy đất trời tươi mát
Thả hồn mình về những ước mơ xa.

Sao hôm nay cứ nhớ hôm qua
Mà bỡ ngỡ cho suốt đời cứ ngỡ
Ôi phải chăng những gì dễ vỡ
Trong cuộc đời là những cái nâng niu.

More...

Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: PT-85

By phuctrinh

Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: PT-85
19.01.2008 20:30

 
Ngoài PT-76 quân đội nhân dân Việt Nam còn dùng các xe tăng lội nước sau: Type-63 do Trung quốc chế tạo . Tuy nhiên Việt Nam thường gọi chung loại này là PT-85.

PT-85 được sản xuất dựa theo mẫu của PT-76 nhưng được thay tháp pháo tương tự như xe tăng T-54 T-59 với nòng pháo cỡ 85 mm. Trong giai đoạn chiến tranh biên giới Tây Nam với Polpot ta thu được nhiều xe PT-85 (Type-63) của Trung Quốc cung cấp cho Khmer đỏ sau đó trang bị lại cho quân giài phóng Campuchia.

Dưới đây là 2 loại xe nói trên

XE TĂNG LỘI NƯỚC TYPE 63

THÔNG SỐ KỸ THUẬT

Loại:Xe tăng lội nước hạng nhẹ
Nước sản xuất: Trung Quốc
Nặng:18.4 tấn
Dài 7.288 m
Bề ngang: 3.2 m
Cao: 2.522 m
Tổ lái:4 người
Vũ khí: Súng chính 85mm( 105mm với Type 63A)
1 đại liên đồng trục 7 62mm
1 đại liên 12 7mm gắn trên đỉnh tháp pháo
Động cơ:12150L2 diesel
400 mã lực
Tầm hoạt động: 370km
Vận tốc: 64km/h trên cạn
12km/h dưới nước

Xe tăng lội nước Type 63 là loại xe tăng lội nước hạng nhẹ được Trung Quốc chế tạo dưạ theo y nguyên bản PT-76 cuả Liên Xô chỉ khác là Type 63 được gắn tháp pháo cuả Type 62 hình vòm có 1 lỗ thông hơi được gắn ống thở . Súng chính được thay thế bằng pháp 85mm có thể bắn đạn AP APHE HE và HEAT thay cho loại 76mm cuả PT-76 Type 63 còn được trang bị thêm 1 đại liên 12 7mm trên đỉnh tháp pháo.Tổ lái nâng lên 4 người và động cơ 12150L2 Diesel 400 mã lực cuả nó nâng tốc độ tối đa trên cạn lên tới 64km/h.Type 63 được TQ cung cấp cho Quân đội NDVN trong kháng chiến chống Mỹ có tham gia các trận đánh kèm với PT-76 hiện nay được sử dụng trong 1 số đơn vị tăng thiết giáp và Hải quân đánh bộ. Type 63 vẫn còn được Quân đội Trung QUốc sử dụng trong các đơn vị Thuỷ quân lục chiến nhưng với phiên bản Type 63A.

 




 

PT-85 của Việt Nam

Nguồn: Vietnam Defence Millitary Technology and News _ Diễn đàn Khoa học Kỹ thuật Quân sự và Quốc phòng

More...

Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: BMP-1

By phuctrinh

Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: BMP-1
22.01.2008 19:59

 
Bronevaya Maschina Piekhota (BMP-1) được sản xuất lần đầu vaò đầu những năm 1960 và ra mắt vào năm 1967 tại cuộc duyệt binh trên Quảng trường Đỏ.

BMP-1 đánh dấu 1 sự thay đổi quan trọng từ khái niệm xe bọc thép (Armored Personnel Carrier) thành Xe chiến đấu bộ binh(chiến xa bộ binh) phối hợp giưã tính cơ động cao vũ khí chống tăng hiệu quả và giáp bảo vệ nhằm mục đích vận chuyển bộ binh.BMP-1 có kích thước nhỏ hơn đáng kể so với các loại xe bọc thép(APC) cuả phương Tây nhưng trang bị hoả lực lại mạnh hơn. BMP-1 được cách tân cho phép lính bộ binh có thể bắn bằng vũ khí cá nhân cuả họ từ bên trong xe tăng qua các lỗ châu mai điều này sẽ giúp họ có thể chiến đấu từ bên trong xe với giáp bảo vệ an toàn.Để làm được điều này các lỗ châu mai và kính tiềm vọng đều được thiết kế cho từng binh sĩ trong xe. BMP-1 trở thành Chiến xa bộ binh đầu tiên trên thế giới nó có thể chở theo bộ binh từ 3 đến 8 người.BMP-1 thay thế các xe thiết giáp BTR-50P và bổ sung cho các xe thiết giáp BTR-60PB trong những đơn vị bộ binh cơ giới chủ lực.



Xe BMP-1 của Việt Nam trong một buổi diễu binh

Sự phối hợp giữa hoả lực chống tăng hiệu quả độ cơ động cao giáp bảo vệ tương xứng BMP-1 đã trở thành 1 thứ vũ khí lợi hại cho bộ binh Liên Xô.Được thiết kế để đáp ứng nhu cầu tấn công nhanh trong thời đại chiến tranh hạt nhân súng chính 73mm loại 2A20 với 40 viên bắn đạn HEAT có liều phóng hỗ trợ(loại đản mà RPG-7 sử dụng) có tầm bắn tối đa 7000 ft tầm bắn hiệu quả cuả nó khoảng 800m( có thể tiêu diệt xe tăng ở khoan3g cách tới 1300m) và đượ ctrang bị hệ thống nạp đạn tự động.Hệ thống vũ khí chính cuả BMP-1 cũng khác thường có thể bắn chung loại đạn cuả súng chống tăng RPG-7 bệ phóng tên lưả chống tăng AT-3 Sagger gắn trên súng chính để tăng thêm khả năng diệt tăng (tới 3000m)
BMP-1 có đầy đủ tính năng cuả 1 Xe chiến đấu bộ binh lội nước với thân xe thấp mũi xe nghiêng như mũi thuyền.Tháp pháp hình chóp cụt đặt ở giưã thân xe được gắn 1 súng chính 73mm nòng trơn và 1 đại liên7 62mm đồng trục và 1 bệ phóng tên lưả chống tăng AT-3 Sagger ngay phiá trên súng chính. Động cơ 6 xi-lanh Diesel làm mát bằng nước có công suất 290 mã lực đặt ở bên phải trước thân xe.Cưả dành cho lái xe nằm ở bên trái thân trước đèn nhìn đêm IR gắn ở trên nóc tháp pháo phiá trước cưả dành cho xa trưởng. Phiá sau thân xe có 4 cưả nhỏ ở trên sàn khoang chở lính và có 2 cưả ra vào lớn ở sau đuôi xe.Có 4 lỗ châu mai ở mỗi bên sườn cuả khoang chở lính và 1 lỗ ở cưả ra vaò bên trái.BMP-1 chạy bằng xích có 6 bánh dẫn động giống như PT-76 nhưng có thêm 3 bánh đỡ xích.BMP-1 có khả năng lội nước bằng xích cuả nó thay vì lội bằng hệ thống đẩy phản lực nước như ở PT-76 có tốc độ và tầm hoạt động cần thiết để bắt kịp các loại xe tăng tốc độ nhanh mà nó đi theo trong đội hình tấn công.




Hỏa tiễn chống tăng trên BMP-1

Tổ lái cuả BMP-1 gồm 3 người bao gồm cả xa trưởng người mà sẽ trở thành chỉ huy nhóm bộ binh tác chiến khi họ rời khỏi xe.Với các lỗ châu mai và kính tiềm vọng ở 2 bên sườn xe lính bộ binh ngôì trong xe có thể bắn bằng các loại vũ khí cá nhân như AK trung liên PKM ngay cả trong khi di chuyễn thậm chí cả súng chống tăng RPG-7 RPG-16 và cả tên lưả vác vai SA-7 điều naỳ khiến cho BMP-1 gần như là 1 lô cốt di động. Xe có hệ thống bảo vệ NBC cho tổ lái và lính bộ binh giúp họ tác chiến mà ko bị ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài.
BMP-1 được trang bị đèn hồng ngọai tiềm vọng kính và thiết bị ngắm hồng ngoại để tác chiến ban đêm.BMP-1 có tính năng tạo khói mù bằng cách phun nhiên liệu diesel vào buồng thải khói.

Tuy nhiên tính chất dễ bị tổn thương cuả BMP-1 thể hiện qua cuộc chiến tranh ở Trung Đông năm 1973 đã gây ra nhiều tranh cãi trong quân đội Liên Xô về vấn đề :" BMP-1 nên được sử dụng như thế nào trong trận chiến?". BMP-1 có giáp bảo vệ tương đối mỏng( dày nhất 19mm ở thân xe và 23mm ở tháp pháo) có thể đủ sức bảo vệ xe trước đạn xuyên giáp chống cơ giới cỡ 12 7mm ( chỉ với chỗ giáp có độ nghiêng trên 60 độ) nhưng BMP-1 lại dễ bị tổn thương trước tên lưả chống tăng và hoả lực xe tăng cuả đối phương. Sự bố trí cuả các vị trí nguy hiểm như buồng đạn buồng nhiên liệu khoang động cơ hay khoang chở lính đều ko an toàn trước sự xuyên phá cuả vũ khí chống tăng.

Vì thiết kế giới hạn trong việc hạ thấp súng chính nên BMP-1 khó khăn khi bắn tiả từ vị trí cao mà phải lộ toàn thân ra để chiến đấu điều này làm BMP-1 dễ dàng trở thành mục tiêu nhắm bắn cuả đối phương.

BMP-1 có thể đạn đến vận tốc tối đa cuả nó là 70km/h nhưng chỉ trong khoảng thời gian ngắn do độ dằn xóc quá cao và hệ thống truyền động ko thể đáp ứng được.Do hệ thống nạp đạn tự động quá phức tạp và thiếu ổn định nên BMP-1 ko thể bắn khi đang chạy trên điạ hình gồ ghề. BMP-1 phải đứng yên khi bắn tên lưả AT-3 Sagger AT-3 Sagger rất khó nạp đạn và hoàn toan2 ko thể nạp đạn trong tình trạng bảo vệ NBC.

Nhìn chung BMP-1 là xe chiến đấu bộ binh đầu tiên nên nó vẫn còn 1 số khuyết điểm và vẫn thưà hưởng những hạn chế cuả dòng tăng Liên Xô tuy nhiên nó vẫn là 1 thứ vũ khí đáng tin cậy cua bộ binh trên chiến trường và được rất nhiều quốc gia sử dụng.Tham gia nhiều cuộc chiến tranh:

1973 CHiến tranh Yom Kippur( Israel+ các nước Ả Rập)
1975-2000 Nội chiến Angola
1979-1988 Chiến tranh cuả Liên Xô tại Afghanistan
1980-1988 Chiến tranh Iran-Iraq
1990-1991 Chiến tranh vùng Vịnh
1991-2001 chiến tranh Nam Tư
1994-1996 Chiến tranh Chechen lần 1
1999- Chiến tranh Chechen lần 2
2001- Chiến tranh cuả Mỹ tại Afghanistan
2003- Chiến tranh Iraq
Hiện nay Quân đội Nhân dân Việt Nam có khoảng 300 chiếc BMP-1

THÔNG SỐ KỸ THUẬT
Loại: Xe chiến đấu bộ binh
Nước SX: Liên Xô
Nặng 13.5 tấn
14.7 tấn với BMP-1P[1]
Dài: 6.74m
Rộng: 2.94 m
Cao: 2.15 m
Tổ lái: 3 (Xa trưởng lái xe xạ thủ) (+8 lính bộ binh)
Giáp: Dày nhất 19mm ở thân xe và 23-40mm ở tháp pháo
Vũ khí:Súng chính73 mm 2A28 Grom nòng trơn (40 viên)
Đại liên đồng trục 7 62mm
Tên lưả chống tăng 9M14 Malyutka (AT-3 Sagger) BMP-1
9M111 Fagot (AT-4 Spigot) 9M111-2 Fagot (AT-4B Spigot B) 9M113 Konkurs (AT-5 Spandrel) tuỳ theo phiên bản
Động cơ:UTD-20 6-xilanh diesel làm mát bằng nước
290-300 mã lực
Tầm hoạt động:600km
TỐc độ: 65-70km/h trên đường nhưạ
45km/h trên đường gồ ghề
7km/h dưới nước

Nguồn: Vietnam Defence Millitary Technology and News _ Diễn đàn Khoa học Kỹ thuật Quân sự và Quốc phòng

More...

Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: BMP-2

By phuctrinh

Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: BMP-2
30.01.2008 20:46

 
Xe chiến đấu bộ binh BMP-2 được đưa vào sử dụng vào những năm 1980 là mẫu cải tiến cuả BMP-1 với những thay đổi về vũ khí chính.







Tháp pháo mới 2 người được thay thế cho tháp pháo 1 người cuả BMP-1 súng chính 30mm nòng dài nhỏ tốc độ cao có thể dùng để chống lại máy bay trực thăng và bộ binh bệ phóng tên lưả chống tăng gắn trên tháp pháo có thể lắp các loại tên lưả chống tăng như AT-4 SPIGOT hoặc AT-5 SPANDREL. Với tháp pháo được thiết kế rộng hơn số lượng cưả quan sát cho lính bộ binh giảm xuống còn 2 cưả thay vì 4 cưả ở BMP-1 và số lính bộ binh chở theo giảm đi 1 người( còn 7 người). Mỗi bên sườn xe ở vị trí khoang chở lính có 3 lỗ châu mai và tiềm vọng kính.


BMP-2 có khả năng lội nước như BMP-1 xích cuả nó được cải tiến so với BMP-1 để tăng khả năng nổi trên mặt nước. BMP-2 có thể trang bị giáp nổ cảm ứng ERA nhưng ERA lại gây nguy hiểm cho bộ binh tùng thiết nên giáp bảo vệ thụ động thích hợp hơn còn ERA thì ko được tin cậy hơn nưã khi lội nước mà gắn thêm giáp thì ko phù hợp.BMP-2 có thêm 1 số cải tiến về bộ phận điều hoà ko khí và động cơ mạnh hơn BMP-1. Tháp pháo được thiết kế rộng hơn và có 2 cưả quan sát cho 2 người như vậy sẽ có 1 người điều khiển súng chính 30mm loại 2A72 và 1 người sử dụng tên lưả chống tăng tránh được việc 1 người làm 2 việc cùng lúc. Bệ phóng tên lưả chống tăng Kornet được trang bị thiết bị ngắm hồng ngoại gồm 1 tên lưả trên bệ phóng và 4 tên lưả dự trữ cơ chế nạp đạn bằng tay. Loaị tên lưả sử dụng có thể là AT-4 AT-4B hoặc AT-5 AT-5B ngoài ra BMP-2 có thể sử dụng các loại tên lưả Milan Milan-2 Milan-3. Thiết bị định hình mục tiêu cho tên lưả bằng hồng ngoại loại Trakt/1PN65 cuả Nga được trang bị cho BMP-2 có tầm định vị khoảng 2500m. Loại Mulat/1PN86 cuả Nga có thể đạt tới 3600m.

THÔNG SỐ KỸ THUẬT
Loại: Xe chiến đấu bộ binh
Nước sản xuất: Liên Xô
Nặng: 14.3 tonnes
Dài: 6.72 m
Rộng: 3.15 m
Cao: 2.45 m
Tổ lái: 3 người + 7 lính bộ binh
Giáp: Dày nhất 33mm
Vũ khí: Súng chính 30mm loại 2A42
Tên lưả chống tăng AT-4 hoặc AT-5
1 đại liên đồng trục 7 62mm
Động cơ: UTD-20/3 Diesel 300 mã lực
Tầm hoạt động: 600km
Vận tốc: 65km/h trên đường nhưạ
45km/h trên đường gồ ghề

Nguồn: Vietnam Defence Millitary Technology and News _ Diễn đàn Khoa học Kỹ thuật Quân sự và Quốc phòng

More...

Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: M-113

By phuctrinh

Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: M-113
28.01.2008 23:40

 
Thiết giáp chở quân (APC – Armored Personel Carrier) hay còn gọi là thiết vận xa M-113 là loại xe APC phổ biến nhất trong lịch sử chiến tranh hiện đaị. Được sản xuất vào cuối thập niên 50 vào thời kỳ đầu của chiến tranh lạnh với hơn 28.000 chiếc được sản xuất với 12 phiên bản khác nhau nhưng chủ yếu là các phiên bản M-113A1 M-113A2 M-113A3. Hiện nay M-113 còn phục vụ trên 50 quốc gia trong đó có Việt Nam.

Thiết vận xa M 113 và cuộc thử nghiệm trên chiến trường Việt Nam


 

Cuối năm 1961 trước áp lực quân sự ngày càng cao của quân giải phóng miền Nam (GPMN) tiến hành hàng loạt cuộc tấn công vào vị trí phòng thủ của Quân VNCH Hoa Kỳ đã tăng cường yểm trợ quân sự và kinh tế cho VNCH. Trong số những quân dụng được Hoa Kỳ chuyển giao cho Quân VNCH có loại xe thiết giáp M 113. Ban đầu các xe này được đem huấn luyện và trắc nghiệm trong các cuộc hành quân bộ binh có sử dụng cơ giới. Cuộc chuyển giao M-113 phục vụ trong chiến đầu tiên diễn ra vào ngày 30 tháng 2/1962 với 32 chiếc M 113 trong đó 30 chiếc giao cho hai đại đội thiết giáp Ngụy mỗi đại đội có 15 chiếc. Theo tổ chức mỗi đại đội có 3 chi đội chiến đấu và 1 chi đội yểm trợ mỗi chi đội chiến đấu có 3 M-113 chi đội yểm trợ có 4 chiếc M 113 trong đó có 3 chiếc được gắn súng cối 60 ly và 3 súng phóng hỏa tiễn 3.5 và một ban chỉ huy đại đội có 2 M-113 một dành cho đại đội trưởng và một cho đội Bảo trì và sửa chữa. Hai đại đội M-113 này chính thức xuất quân vào ngày 11-6-1962 và VNCH quyết định đưa hai đơn vị này xuống đồng bằng Cửu Long để bảo vệ trục lộ huyết mạch nối miền Tây với Sài Gòn. Hai đại đội đặt thuộc quyền điều động của bộ Tư lệnh Sư đoàn 7 và Sư đoàn 21 Bộ binh sau đó được cải biến thành đại đội 7 và đại đội Cơ giới M-113.

Theo học thuyết quân sự Hoa Kỳ loại M 113 được dùng như một loại “Taxi chiến trường” mang quân đến tận trận địa rồi đội quân xuống bộ tấn công mục tiêu thế nhưng trên chiến trường VN kinh nghiệm cho thấy đem lực lượng bộ binh tới sát mục tiêu thường bị tổn thất nặng khả năng di động bị hạn chế tối đa phải hy sinh khả năng yểm trợ của thiết vận xa. Bộ Tham mưu Liên quân Hoa Kỳ đã khẳng định như “đinh đóng cột” rằng Việt Nam là chiến trường của Bộ binh không phải là đất dụng võ cho lực lượng thiết giáp. Các vị tướng Hoa Kỳ cũng đưa ra dẫn chứng bằng nhữngnhững thất bại của Thiết giáp Pháp trong cuộc chiến từ 1946-1954 tại Việt Nam. Các nhà quân sự Mỹ kết luận rằng Việt Nam có địa hình chi chít núi non rừng rậm và nhiều sông ngòi đầm lầy chỉ là “mồ chôn” cho các loại xe cơ giới này. Từ những kinh nghiệm đó Mỹ và quân VNCH đã biến M-113 thành xe chiến đấu trực tiếp hơn là một xe thiết vận xa APC thuần túy. Với một đại liên 12 7 mm và hai trung liên 7 62 mm bắn được về phía bên sườn M-113 đã trở thành một lo cốt di động khá lợi hại bộ binh trong xe có thể chiến đấu trực tiếp thay gì núp kín và chờ đến nơi qui định mới xuống xe để chiến đấu. Và cách đánh này cũng được nhiều đơn vị Hoa Kỳ áp dụng sau này.


Thời gian này Thiết vận xa M-113 càng ngày càng trở thành một loại thiết giáp đa năng có thể đi bất cứ nơi nào trong toàn lãnh thổ miền Nam Việt Nam kể cả những nơi tưởng rằng rất khó sử dụng cho thiết giáp như ở Miền Tây sông ngòi chằng chịt. Bất cứ địa thế hiểm trở nào M-113 cũng có cách thích ứng ngay. Trong năm 1963 nhiều chiến thuật kỹ thuật và đơn vị mới được thử nghiệm trên chiến trường 4 vùng chiến thuật. Trong số những cải tiến này là loại xe M-113 được gắn thêm một khẩu đại liên Browning 50. Với lớp giáp khá dầy tốc độc nhanh công suất lớn và đặc biệt M-113 có khả năng lội nước rất nhanh lúc đầu M-113 đã gây rất nhiều khó khăn cho quân GPMN. Thiết giáp của quân VNCH xuất hiện trong lúc quân GPMN còn yếu và vũ khí chống tăng của quân GPMN thô sơ và hiếm. Quân GPMN không có kinh nghiệm chống thiết giáp vì thế thiết giáp M-113 của quân VNCH rất hữu hiệu và gây cho quân GPMN nhiều khó khăn lúc đầu. Quyết tâm của quân GPMN là phải thắng chiến thuật “thiết xa vận” và “trực thăng vận” của quân VNCH. Tâm lý bộ đội lúc đầu còn sợ xe bọc thép M113 của quân VNCH bởi chúng rất lợi hại cơ động nhanh đi được ở dưới nước.

Toàn quân khu lúc ấy phát động phong trào “dùng súng bộ binh tiêu diệt xe M113 của quân VNCH”. Với tinh thần sáng tạo và ý chí kiên cường quân GPMN đã sáng tạo ra nhiều cách đánh. Quân GPMN đào hầm hố trên các con đường ở miền Tây những mìn bẫy chống tăng được gài hàng dọc hoặc tại những chỗ quẹo. Sau đó quân GPMN được chi viện thêm các loại vũ khí mới như loại lựu đạn chống tăng PGN-2 bắn từ AK 47; súng chống tăng B-40 B-41. Thậm chí đạn AK-47 cải tiến cũng có thể xuyên thủng được vỏ nhôm của M-113 vốn dùng để chống lại bụi phóng xạ hạt nhân.Trong trận Ấp Bắc tháng Giêng 1963 hàng loạt M-113 đã bị bắn hạ rất nhiều xạ thủ đại liên tử trận nên và một số xe M-113 bị bắt sống quân VNCH đã phải cải tiến M-113 rất nhiều trong đó có việc chế ra cái tấm chống đạn bao quanh xạ thủ đại liên hay gắn thêm lưới B-40 bao cát. Như vậy M-113 không còn đáng sợ nữa. Có câu chuyện do các cựu binh kể lại rằng sau này khi hay tin du kích bắn hạ được xe M113 những người Hoa kiều ở Chợ Lớn lần tìm đến Củ Chi đặt hàng mua một số linh kiện máy móc và vỏ nhôm. Cứ mỗi chiếc anh em du kích bán được 10.000-15.000 đồng đủ mua gạo mắm thuốc thang cho cả đại đội ăn trong cả tuần. “Làm ăn” được đến nỗi khi cạn kiệt lương thực thực phẩm thì anh em bộ đội du kích cứ nhong nhóng chờ bọn xe lội nước M-113 đến để kiếm tiền “cải thiện”.

Xe M-113 trong lực lượng tăng - thiết giáp quân đội nhân dân Việt Nam

Ngay từ khi quân VNCH dùng xe tăng thiết giáp để đàn áp phong trào cách mạng ở miền Nam quân GPMN đã nghĩ đến việc xây dựng lực lượng tăng thiết giáp tại miền nam để chống lại chúng. Với truyền thống quân tay không giết giặc lấy vũ khí địch đánh địch quân GPMN đã bắt sống nhiều xe tăng quân VNCH thậm chí có đơn vị đặc công táo bạo tập kích bãi đậu xe quân VNCH và lái xe chiến lợi phẩm về căn cứ an toàn. Trận đánh xe tăng đầu tiên tại miền nam của quân GPMN diễn ra vào ngày …. Với sự “tham chiến” của lực lượng “hỗn hợp” tăng – thiết giáp gồm 4 xe: M-24 M-41 M-8 và M-51. Quân VNCH đã thực sự bất ngờ và hỏang lọan xe tăng của “Việt Cộng”. Sau này trứơc khi những xe tăng bơi PT-76 xuất hiện ở trận Làng Vây quân GPMN đã có trong quân GPMN vài chục chiếc xe tăng M-41 và thiết vận xa M-113 làm vốn để xây dựng nên những binh đòan tăng – thiết giáp hòan chỉnh.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh tại Đà Nẵng trứơc sức tấn công nhanh và mãnh liệt của quân giải phóng quân VNCH đã bỏ lại hàng trăm xe tăng và thiết giáp còn nguyên vẹn trong đó phần nhiều là M-113 M-41 quân GPMN sử dụng ngay những chiếc xe này để đánh quân VNCH.

Sau khi giải phóng miền Nam quân GPMN thu được hàng ngàn xe tăng – thiết giáp các loại của quân VNCH còn sử dụng được trong đó theo đánh giá của các chuyên gia nước ngoài – còn khỏang 500 xe tăng M-113 còn sử dụng được.

Trong chiến tranh biên giới Tây Nam quân GPMN sử dụng rất nhiều xe M-113 cùng với T-54/55 để đánh Khmer Đỏ M-113 được xem là lực lượng xung kích chủ yếu trong lực lượng tăng – thiết giáp trong thời kỳ đó và tỏ ra rất hiệu quả trong tấn công. Hiện nay trong khi các loại tăng chiến lợi phẩm như M-41 M-48 gần như không còn phục vụ nữa thì M-113 vẫn còn là lực lượng chủ yếu trong binh chủng tăng – thiết giáp Việt Nam. Tuy nhiên do bị thiệt hại trong chiến tranh và thiếu phụ tùng thay thế nên số lượng M-113 của Việt Nam bị hao hụt rất nhiều hiện tại con số M-113 còn họat động không được chính xác theo một số nguồn tin con số này là khỏang 200.

Hiện nay QĐNDVN đã từng bước hiện đại hóa số M-113 còn lại bằng cách gửi ra nước ngoài và thay thế các phụ tùng đã hư hỏng bằng thiết bị dễ kiếm từ các nguồn khác trong lúc Mỹ vẫn còn chưa có quan hệ quân sự sâu rộng với Việt Nam. Về vũ khí Việt Nam hầu hết đã thay thế súng Mỹ bằng súng Nga cụ thể là thay đại liên Browning .50 bằng đại liên 12 7 mm. M-113 sẽ còn phục vụ trong lực lượng lâu dài trong điều kiện Việt Nam còn khó khăn trong việc trang bị mới bằng một loại xe APC tương đương với M-113.

 Tài liệu tham khảo

Fas.org
Vietbao.com
Tiengiang.gov.vn
Chống xe tăng bằng vũ khí bộ binh. Nxb Quân đội 1979.


Nguồn: Vietnam Defence Millitary Technology and News _ Diễn đàn Khoa học Kỹ thuật Quân sự và Quốc phòng

More...

Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: PT-76

By phuctrinh

Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: PT-76
16.01.2008 19:58

 

Địa hình nước ta từ Nam chí Bắc phần lớn là rừng núi chiếm hơn 3/4 diện tích xét về mặt địa thế hoàn toàn không thích hợp với kiểu chiến tranh quy ước và đặc biệt là gây khó khăn cho việc tác chiến bằng tăng thiết giáp.
Qua kinh nghiệm của 2 cuộc chiến tranh giữ nước cho thấy địa hình của Việt Nam với kiểu núi rừng đan xen đồng bằng không thích hợp cho việc tác chiến xe tăng với số lượng lớn đặc biệt là không thích hợp cho các loại tăng lớn nặng nề. Tiêu biểu là trong các chiến dịch Tìm diệt của quân đội Mỹ vào chiến khu Dương Minh Châu năm 1967 cuộc hành quân Juinction City quân đội Mỹ đã huy động 1 lượng lớn tăng thiết giáp trong đó chủ yếu là tăng M41 và tăng M48 kèm theo 1 số lượng lớn xe bọc thép M113 để tấn công nhằm tiêu diệt căn cứ quân chủ lực MTDTGP Miền Nam. Cuộc hành quân đã thất bại và quân đội Mỹ đã bị thiệt hại nặng về tăng thiết giáp (hơn 48 xe tăng và xe bọc thép bị bắn cháy chỉ bằng các loại vũ khí chống tăng cá nhân như B40 mìn chống tăng..). Chiến thuật đánh xe tăng ồ ạt kiểu thời thế chiến thứ 2 bị hoàn toàn phá sản ở miền rừng núi Tây Ninh.

Quân đội Nhân Dân Việt Nam đã biết dựa vào nguyên tắc: Chọn vũ khí phù hợp với địa hình phát huy lợi thế chiến đấu của tăng thiết giáp trên một địa hình hoàn toàn không phù hợp cho xe tăng để giáng trả những cú đấm thép vào quân thù. Phải nói rằng người bạn Liên Xô có công rất lớn trong việc cung cấp đúng loại vũ khí phù hợp với địa hình phức tạp của Việt Nam các loại tăng thiết giáp mà QDNDVN được cung cấp đều có tính cơ động cao trọng lượng nhẹ (nặng nhất chỉ có T54 là 36 tấn) chiến đấu rất hiệu quả trên địa hình rừng núi. Binh chủng tăng thiết giáp đã đóng 1 vai trò vô cùng to lớn trong các chiến thắng của Quân đội NDVN trong cuộc kháng chiến chống Mỹ: lần đầu tiên tăng thiết giáp được sử dụng trong trận Làng Vây ở Khe Sanh tiếp đó tăng thiết giáp đã làm nên 1 loạt các chiến công vang dội ở Đường 9 Nam Lào Đắc Tô-Tân Cảnh Quảng Trị và góp phần hết sức to lớn cho thắng lợi của Chiến dịch Hồ CHí Minh lịch sử hình ảnh chiếc xe tăng T54 húc đổ cổng dinh Độc Lập ngày 30/4/1975 luôn là hình ảnh đáng tự hào của các chiến sĩ Tăng Thiết giáp QDNDVN.
Sau đây Website vndefence lần lượt xin cung cấp thông tin về các loại tăng thiết giáp mà QDND Việt Nam hiện đang sử dụng:


XE TĂNG LỘI NƯỚC PT-76


Thông số kỹ thuật
Loại: Xe tăng lội nước hạng nhẹ
Nước Sản xuất:Liên Xô
Nặng: 14 tấn với PT-76
15 4 tấn với PT-76B
Chiều dài(không tính súng chính): 6 91m
Cao: 2 26 m
Rộng: 3 15m
Tổ lái: 3 người
Giáp trước : dày nhất 14mm
Giáp tháp pháo:dày nhất 20mm mỏng nhất 17mm
Vũ khí: Súng chính 76mm D-56T 40 viên
1 súng máy đồng trục 7 62mm loại SGMT hoặc PKT
Động cơ: V-6B Diesel 240 mã lực
Tầm hoạt động:260 km trên cạn và 60 km dưới nước
Tốc độ: 44 km/h trên cạn và 10 2 km/h dưới nước

PT-76 [PT = Plavayushtshiy Tank - Amphibious Tank) là loại xe tăng lội nước hạng nhẹ được chế tạo và sử dụng bởi quân đội Liên Xô mẫu PT-76 được phát triển vào khoảng những năm 1949-1951 dưới sự chỉ đạo của Z.Y. Kotin. PT-76 được đưa vào phục vụ từ năm 1954 với khả năng lội nước mà không cần phải thực hiện các thao tác chuẩn bị như các loại tăng khác (T34 T54). Mặc dù PT-76 có giáp mỏng và được vũ trang không đủ tiêu chuẩn như 1 xe tăng hiện đại như khả năng lội nước của nó lại bù đắp giá trị của những hạn chế này. Nó được sử dụng rất rộng rãi trong quân đội các nước thuộc Liên Bang Soviet các nước thuộc Khối hiệp ước Warsaw và một số quốc gia đồng minh khác của LX. Đã có hơn 7000 xe tăng PT-76 được sản xuất và hơn 2000 chiếc xuất khẩu có hơn 25 quốc gia sử dụng. PT-76 vũ trang súng chính 76mm ovới tầm bắn hiệu quả tối đa độ chừng 1500m. Tổ lái gồm 3 người PT-76 cũng được dùng để vận chuyển bộ binh. PT-76 là loại xe tăng lội nước hạng nhẹ nên thiết kế mũi xe tăng dẹt phẳng có hình dáng như mũi tàu. Xích xe có 6 bánh chạy và không có trục lăn đỡ xích. Tháp pháo hình chóp cụt nằm trên vị trí bánh thứ 2 3 4 có 2 cửa dành cho Xa trưởng và Lính nạp đạn cửa dành cho Lái xe đặt ngay dưới súng chính.

PT-76 được sử dụng như xe tăng trinh sát tiêu chuẩn của quân đội Nga và quân đội Khối hiệp ước Warsaw. Mặc dù sau này nó đã được thay thế ở các đơn vị chủ lực tuyến đầu bời các loại Xe chiến đấu khác như BMP-1 BMP M1976 nhưng nó vẫn được sử dụng ở 1 số đơn vị trinh sát bộ binh hạng nhẹ và các đơn vị đổ bộ đường biển. Bên cạnh vai trò trinh sát nó còn được sử dụng đề vượt qua các chướng ngại vật do đối phương dựng lên trên mặt nước trong đợt tấn công đầu tiên của các cuộc đổ bộ đánh chiếm bãi biển. Động cơ V-6 240 mã lực làm mát bằng nước của PT-76 tạo cho nó tốc độ 44km/h khi tuần tra với quãng đường khoảng 260km hệ thống đẩy thủy lực của nó giúp nó rẽ nước với tốc độ 10km/h trên mặt biển với quãng đường 100km. Súng chính 76mm bắn đạn HVAP HEAT đủ sức chống lại các phương tiện cơ giới bọc thép hạng nhẹ APC (xe bọc thép). PT-76 là 1 phương tiện cơ giới trinh sát đáng tin cậy cơ động cao và là 1 phương tiện cơ giới lội nước hiệu quả nhưng có nhiều hạn chế nếu xét trên phương diện 1 phương tiện cơ giới chiến đấu.

Như hầu hết các loại xe tăng của Liên Xô Sản xuất PT-76 bị hạn chế khả năng hạ thấp súng chính và vì thế nên gây trở ngại cho việc bắn tỉa từ khu đất cao. Kiểu thiết kế lội nước của PT-76 làm kích thước của nó lớn không cần thiết đối với trọng lượng cùa dòng tăng hạng nhẹ dẫn đến làm giảm vỏ thép bảo vệ của nó mỏng hơn các loại tăng hạng nhẹ khác. Chính vì lớp giáp tương đối mỏng cùa PT-76 làm nó rất dễ bị tổn thương bởi mảnh đạn pháo và bởi đạn 50 cal (12 7x99mm). Thêm vào đó chỉ huy vừa là xạ thủ đồng thời vừa là người điều khiển Radio điều này làm hạn chế khả năng quan sát của anh ta. PT-76 cũng bị tụt hậu so với các thế hệ xe cơ giới chiến đấu của Liên Xô bởi ko có thiết bị quan sát ban đêm và hệ thống bảo vệ NBC (hệ thống bảo vệ trước vũ khí hạt nhân sinh học hóa học) cho tổ lái.

Trong chiến tranh Việt Nam PT-76 được Quân đội Nhân dân Việt Nam sử dụng lần đầu tiên ở trận Làng Vây Khe Sanh dùng để bao vây tiêu diệt căn cứ của Lực lượng Đặc biệt Mỹ (SOG) được đồn trú bởi chủ yếu là người Thượng và 24 lính Mỹ. Trong trận Làng Vây PT-76 đã làm tốt vai trò tấn công thọc sâu yểm trợ bộ binh xung phong làm giảm thiểu thương vong đáng kể cho bộ binh gây thiệt hại nặng cho phe phòng thủ (trên 200 Lính đặc nhiệm người Thượng bị tiêu diệt 7 lính Mỹ chết) tuy nhiên phe QĐNDVN cũng chịu thiệt hại nặng là 5 trong số 12 xe bị phá hủy bởi súng không giật DKZ và súng chống tăng M72 LAW nhưng cuộc tấn công đã giành thắng lợi tiêu diệt được cứ điểm Làng Vây. Sau đó PT-76 được QĐNDVN sử dụng rộng rãi suốt cuộc chiến tranh trong các trận đánh hiệp đồng binh chủng PT-76 chỉ tham gia 1 trận đấu tăng duy nhất tại Bến Hét ngày 3/3/1969 gần biên giới Lào trong trận đánh 2 xe tăng PT-76 đã bị bắn cháy bởi 1 xe tăng hạng trung M48A3 của Quân đội Mỹ. Sau này PT-6 được phiên chế vào QĐNDVN thời nay trang bị cho các đơn vị thiết giáp bộ binh cơ giới và Lực lượng Hải quân đánh bộ.



Tượng đài chiến thắng Làng Vây Khe Sanh Quảng Trị



Tranh vẽ về trận Làng Vây

Nguồn: Vietnam Defence Millitary Technology and News _ Diễn đàn Khoa học Kỹ thuật Quân sự và Quốc phòng

More...

Lực lượng tăng – thiết giáp Việt Nam: Các loại thiết giáp bánh hơi

By phuctrinh

Lực lượng tăng – thiết giáp Việt Nam: Các loại thiết giáp bánh hơi
27.03.2008 07:06

 
Thiết giáp bánh hơi phục vụ tích cực trong đội hình lực lượng tăng thiết giáp Việt Nam với khả năng cơ động cao linh hoạt. Số lượng chiếm gần nữa trong tổng số Tăng thiết giáp hiện có của Việt Nam bao gồm rất nhiều loại




Loại: Xe thiết giáp sử dụng bánh hơi
Nước SX: Liên Xô
Nặng: 5.3 tấn
Dài: 5 m
Rộng: 1.9 m
Cao: 1.83 m
Tổ lái: 2 người + 8 lính
Giáp: 6-8 mm
Vũ khí: 3 súng máy 7.62 mm
Động cơ: GAZ-40
78 mã lực (58 kW)
Tầm hoạt động: 285 km
TỐc độ: 80 km/h

Xe thiết giáp BTR-40 là loại xe thiết giáp chở lính và trinh sát cuả quân đội Liên Xô phát triển bởi V. A. Dedkov được thiết kế dưạ trên mẫu BTR-141 trong thế chiến thứ 2 và được sản xuất tại hãng Gorkovsky Avtomobilny Zavod từ 1950 tới 1958. Xe có 2 cưả hông dành cho xa trưởng và lái xe và 1 cưả sau ở đuôi khoang chở lính có thể chở 8 binh sĩ. BTR-40 được sử dụng làm xe thiết giáp chở lính trinh sát tuần tra và công tác chỉ huy. Nó không có hệ thống bảo vệ NBC và thiết bị nhìn đêm. Việt Nam sử dụng loại BTR-40A có vũ trang 1 súng phòng không KPV 14 5mm nòng đôi và được sử dụng như xe phòng không. Việt Nam cũng cải tiến BTR-40 thành xe phóng từ để phá bom từ trường trong chiến tranh chống Mỹ. Hiện nay BTR-40 đã hầu như không còn phục vụ trong lực lượng thiết giáp Việt Nam.







Loại:Xe thiết giáp sử dụng bánh hơi
Nước SX: Liên Xô
Nặng: 9.91 tấn
Dài: 6.83 m
Rộng: 2.32 m
Cao: 2.36 m
Tổ lái 2 người (+17 lính)
Giáp: 4–15 mm
Vũ khí: 2 Súng máy 7.62mm hoặc 1 súng máy 12.7mm +1 súng 7 62mm
Động cơ: ZIS-123 6 cylinder Xăng làm mát bằng nước 110 mã lực
Tầm hoạt động: 650 km
Tốc độ: 65 km/h

Xe thiết giáp BTR-152 là loại xe thiết giáp chở quân chạy bằng bánh cuả Liên Xô được sản xuất vào những năm 1950. Cấu trúc thân xe là cấu trúc hàn động cơ và bộ phận điểu khiển vận hành đặt ở trước xe. Tổ lái gồm Lái xe phụ lái và có khoang chở 17 lính ở sau xe. Xe chạy bằng 6 bánh cao su lốp xe có bộ phận giảm xóc để giúp tổ lái không bị mệt mỏi khi chạy trên điạ hình xấu vũ khí chính là 1 súng máy 7 62mm nhưng tùy theo phiên bản nó còn được trang bị súng phòng không 14 5mm và 23mm. Mẫu BTR-152 V3 được trang bị cả đèn hồng ngoại nhìn đêm. Xe có các cửa quan sát giúp cho binh lính có thể chiên đấu từ trong xe. BTR-152 chấm dứt sản xuất vào năm 1960 và sau đó được thay thế bằng BTR-60 nhưng nó vẫn được nhiều nước trên thế giới sử dụng trong đó có Việt Nam.



THÔNG SỐ KỸ THUẬT

Loại: Xe thiết giáp chạy bằng bánh hơi
Nước SX: Liên Xô
Nặng: 10.1 tấn (BTR-60P)
11.1 tấn (BTR-60PA)
11.4 tấn (BTR-60PB)
Dài: 7.56 m
Rộng: 2.825 m
Cao: 2.06 m
2.31 m (BTR-60PAI BTR-60PB BTR-60PBK và BTR-60PZ)
Tổ lái: 2 + 16 lính (BTR-60P)
2 + 14 lính (BTR-60PA)
3 + 14 lính (BTR-60PAI BTR-60PB và BTR-60PZ)
Giáp: Dày nhất 9mm ở thân xe
7mm ở tháp pháo
Vũ khí: 1 đại liên 12 7mm hoặc 14 5mm trên tháp pháo+ 2 súng 7 62mm
Động cơ: 2 động cơ 6-cyl. khí đốt GAZ-49 từ 94 mã lực đến 115 mã lực tùy phiên bản
Tầm hoạt động: 500km
Tốc độ:80km/h trên cạn
10km/h dưới nước

Xe thiết giáp BTR-60 là mẫu thiết giáp chạy bằng 8 bánh đầu tiên cuả Liên Xô được phát triển vào cuối những năm 1950 để thay thế xe thiết giáp BTR-152 và được ra mắt vào năm 1961. Nó liên tục được cải tiến và mẫu cải tiến cuối cùng là BTR-60PB sau cùng được thay thế bởi mẫu BTR-70. Về số lượng thì BTR-60 là xe thiết giáp có vai trò quan trọng nhất trong quân đội Liên Xô. BTR-60 được xuất khẩu với số lượng lớn sang các nước Đông Đức Bulgaria và Romania. BTR-60 là loại xe thiết giáp chủ lực cuả lực lượng Hải quân đánh bộ Liên Xô.




BTR-60PB thể hiện tính năng di chuyển tốt trên đường gồ ghề. Hình dạng thân xe giống như mũi thuyền với 2 bên sườn xe nghiêng giúp xe có khả nặng lội nước tốt và làm chệch hướng bắn cuả đầu đạn đối phương. BTR-60PB còn có thiết bị nhìn đêm hồng ngoại cung cấp khả năng tác chiến ban đêm.

Xe chạy bằng 8 bánh cao su thân xe được kết cấu bằng thép hàn với hình dạng hình thân thuyền giáp bọc 2 bên sườn xe mũi xe đều có độ nghiêng. Vị trí cuả Tổ lái được bố trí ở phần đầu xe khoang chở lính bố trí ở giữa thân xe còn Khoang động cơ bố trí ở sau đuôi xe. Khoang chở lính được bao bọc kín bởi giáp trên nóc xe và có 1 tháp pháo nhỏ 1 người cùng loại với tháp pháo gắn trên xe BRDM-2 trên tháo pháo có gắn 1 súng phòng không 14 5mm KPV và 1 đại liên đồng trục 7 62mm bên phải và kính tiềm vọng gắn bên trái tháp pháo. Tổ lái sử dụng 2 cửa trên thân xe nằm trước tháp pháo còn 2 cửa sau tháp pháo dành cho lính bộ binh. Mỗi bên sườn xe có đặt 3 lỗ châu mai để bộ binh chiến đấu từ trong xe.

Lốp xe có bộ phận giảm xóc và được viền cao su. 4 bánh đầu là bánhh truyền động và định hướng. Thiết bị truyền động là 1 cặp động cơ 6 xilanh chạy bằng khí đốt đặt ở sau thân xe. Trục xe thứ 1 và thứ 3 được truyền động bởi động cơ bên phải trục thứ 2 và thứ 4 được truyền động bởi động cơ bên trái. BTR-60 có khả năng lội nước bằng 2 ống đẫy thủy lực đặt sau đuôi xe.

Mặc dù BTR-60 có giáp dày hơn các loại xe thiết giáp thông thường khác nhưng lại rất dễ bị tổn thương bởi đạn HE (High Explosive) cũng như vũ khí cá nhân lốp xe cũng rất dễ bị thủng bởi đạn súng bộ binh. Các thiết bị bọc giáp mỏng cuả xe (bình nhiên liệu đèn...) rất dễ bị phá huỷ trước sức công phá cuả pháo mặt đất. Hơn nữa sự bố trí các cưả ra vào và cưả quan sát làm bộ binh rất dễ bị tổn thương trước đạn cuả quân địch.
BTR-60 được sử dụng trong các cuộc chiến tranh Yom Kippur War năm 1971 giưã Israel và các nước Ả Rập chiến tranh Ấn Độ-Pakistan chiến tranh cuả Liên Xô tại Afghanistan chiến tranh Checchen..

Hiện nay quân đội VN có khoảng 400 xe BTR-60 và nó là xe thiết giáp chủ lực cuả lực lượng Hải quân đánh bộ VN.







THÔNG SỐ KỸ THUẬT

Loại: Xe thiết giáp trinh sát
Nước SX: Liên Xô
Nặng: 7 tấn
Dài: 5.75 m
Rộng: 2.35 m
Cao: 2.31 m
Tổ lái: 4 người (driver co-driver commander gunner)
Giáp: 14 mm
Vũ khí: Súng phòng không 14.5mm KPVT
Súng máy 7.62mm PKT
Động cơ: GAZ-41 khí đốt 140 mã lực (104 kW)
Tầm hoạt động: 750 km
Tốc độ: 95 km/h

Xe thiết giáp trinh sát BRDM-2 được Liên Xô chế tạo để đáp ứng nhu cầu cải thiện hỏa lực mạnh cho các xe thiết giáp trinh sát lội nước. BRDM-2 được cải tiến so với BRDM-1 bằng động cơ mạnh hơn và lắp đặt sau xe gắn thêm 1 tháp pháo loại cuả BTR-60 có trang bị 1 súng phòng không 14 5mm KPV. BRDM-2 ra mắt vào năm 1966 và được các nước trong hiệp ước Warsaw sử dụng thay thế loại BRDM-1 cũ nó có khả năng lội nước bằng ống đẩy thuỷ lực đặt sau đuôi xe.



Giáp cuả BRDM-2 chỗ dày nhất 14mm rất dễ bị tổn thương bởi mảnh pháo hay đạn 12 7mm. Lốp xe không có giáp bảo vệ nên rất dễ bị chọc thủng bời đạn cuả đối phương. BRDM-2 cũng tương tự như BRDM-1 cũng có 2 bánh xe nhỏ dưới bụng hỗ trợ khi vượt qua đồi núi có bộ phận giảm xóc ở lốp xe. Thân xe cuả BRDM-2 lớn hơn và khoang động cơ lớn hơn BRDM-1 đặt ở sau xe. BRDM-2 còn được gắn đèn hồng ngoại nhìn đêm và hệ thống bảo vệ NBC.


Nguồn: Vietnam Defence Millitary Technology and News _ Diễn đàn Khoa học Kỹ thuật Quân sự và Quốc phòng

More...