Hôm nay

By phuctrinh

Từ khắp nơi các chiến trường xa
Về đây vui sum họp một nhà
Nơi gặp gỡ những tâm hồn tươi trẻ
Hăm lăm người - Hăm lăm lái xe

...
                             (Một nhà) 

Hôm nay

Ngày tiếp ngày
Rồi giờ học hôm nay
Lớp trưởng báo với giáo viên:
- Không ai nghỉ !
- Nhưng sao lớp thưa đi
và buồn thế ?

Phòng học thừa ra mấy ghế
Giáo viên tần ngần đưa mắt nhìn quanh
Nhìn chúng tôi thay cho điểm danh
Và dừng lại người cuối cùng - hai mươi mốt

Một ngọn gió thổi vào tê buốt
Giáo viên tìm gì trong "Nhật ký" rất lâu
Còn chúng tôi đưa mắt nhìn nhau
Xao xuyến

Giờ học hôm nay không một ai trò chuyện
Tập trung vào bài học nhiều hơn
Gió ngoài trời vẫn lộng từng cơn
Mặc gió

Giờ học hôm nay của chúng tôi chỉ có
Trên bục giảng bài tiếng của giáo viên
Và trên bàn tiếng bút của học viên
Kêu trên giấy kêu hoài trên giấy

Như vậy đấy
Nên thời gian lắng đọng ở hôm nay

12.12.75 

More...

DANH SÁCH HỌC SINH KHÓA 8 CẤP III XUÂN TRƯỜNG

By phuctrinh

Đang cập nhật (Danh sách có đến  20/10/2009: 82 bạn)
Danh sách còn khuyết mong các bạn update.  Để bổ túc hồ sơ các bạn call 0903.704692 hoặc gửi mail to phuctrinh416@yahoo.com. Các bạn có thể đính chính bổ sung ... và gửi ảnh "chân dung" để  "minh họa" thì quá tốt.  OK?

More...

Nguyễn Ngọc Vỹ (1)

By phuctrinh

Công ty Tem Việt Nam


Công ty Tem Việt Nam thành lập ngày 01/7/1977 theo Quyết định số 988/QĐ ngày 10/6/1977 của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện (nay là Bộ Bưu chính Viễn thông). Công ty Tem Việt Nam là doanh nghiệp Nhà nước đơn vị thành viên hạch toán độc lập thuộc Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (Bộ Bưu chính Viễn thông)

I – Chức năng nhiệm vụ chính:

1. Thiết kế các mẫu tem Bưu chính Việt Nam.
2. Tổ chức in và chuẩn bị cho phát hành tem bưu chính.
3. Cung ứng tem cước phí trên mạng lưới bưu chính toàn quốc.
4. Kinh doanh tem chơi các sản phẩm tem chơi và các loại Văn hoá phẩm liên quan tại Việt Nam và thị trường tem chơi thế giới.

II – Sản phẩm chủ yếu.

1. Tem cước phí trên mạng lưới bưu chính toàn quốc.
2. Tem chơi các sản phẩm tem chơi và các loại Văn hoá phẩm liên quan.
- Tem chơi: Trọn bộ cụt bộ lẻ bộ Blốc tem (chưa đóng dấu – đóng dấu; có răng – không răng); Tem trọn năm sách tem; Túi tem trộn.
- Ấn phẩm tem: Phong bì in sẵn tem; Bưu giản (Aerogramme); Bưu thiếp in sẵn tem.
- Sản phẩm tem chơi: Bưu ảnh MaxiCard Phong bì ngày phát hành đầu tiên (FDC).
- Các sản phẩm từ tem: Tranh phóng tem tranh ghép tem huy hiệu tem (Stampin).
- Dụng cụ chơi tem: Album bìa băng và phơi gài tem các loại; Thước đo răng tem; Panh gắp tem; ...
- Xuất bản phẩm tem chơi: Danh mục tem CD-ROM tem Bưu chính Việt Nam; Sổ tay sưu tập tem; Hướng dẫn phát triển phong trào sưu tập tem Thuật ngữ Tem chơi; Tài liệu tập huấn nghiệp vụ tem Bưu chính;...
- Nghiên cứu và sản xuất các sản phẩm trưng bày tem chuyên sản xuất cung ứng và trực tiếp lắp đặt: Táp lô quay 1 tầng 2 tầng; Táp lô góc; Táp lô bán nguyệt; Táp lô ôvan; Tủ táp lô kéo; Khung triển lãm tem tiêu chuẩn ... theo yêu cầu.

Thông tin liên lạc

Người liên lạc: Ông Nguyễn Ngọc Vỹ - Giám đốc
Số điện thoại: (08) 9104254
Số FAX: 04) 8269917
Địa chỉ: 14 Trần Hưng Đạo - Hà Nội Việt Nam/18 Đinh Tiên Hoàng Q1 Tp. Hồ Chí Minh

Nguồn:http://www.silkroadvn.com.vn/moredetails/28361 

More...

Ngày hội trường

By phuctrinh




Nhân-Thảo-Nga-Trinh-Yến- ? - ? - ? -  Thìn-Lộc-Loan- ? - ? - Khái-XTuyển-Hiển-Cao-Quí- ? - ? - ? - ? -Huynh- ? - ? - Lưu
Gặp gỡ nhân kỷ niệm 40 năm THPT Xuân Trường (1961-2001)                                                                 Ảnh:

More...

Nhà thờ Bùi Chu (ảnh)

By phuctrinh

Thư của Quân 

       
Quân vừa xem trang vnweblogs của Trinh thấy nói về nhà thờ Bùi Chu. Mình thấy sướng âm ỷ. Cho mình góp một tay. Trong nhà thờ Bùi Chu đang xây khoảng 100 phòng cho khách thăm quan ở (hình như nghe nói miễn phí). Trong đó có cả cồng chiêng mọi thứ văn hóa dân tộc VN v.v .. Cái kèn dài 5.2m kỷ lục VN là ở nhà thờ Bùi Chu đấy. Gửi Trinh mấy ảnh "Ông Bác" do mình chụp.



Ảnh: Hoàng Việt Quân

More...

Phạm Tuấn Diếp (2)

By phuctrinh

 

BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ QUẬN TÂY HỒ KHÓA III
...
21. Đ/c Phạm Tuấn Diếp (đứng hàng thứ ba thứ 6 từ trái sang)
...

 BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ QUẬN TÂY HỒ KHÓA II
...
16. Đ/c Phạm Tuấn Diếp (đứng đầu hàng thứ nhất bên trái)
...

  Nguồn:http://www.tayho.gov.vn/tin_tuc_quan/home/gioi_thieu.php?ho_kdPage=11&don_vi_id=2

More...

Ở CƯƠNG VỊ NÀO CŨNG NÊU CAO TRÁCH NHIỆM - Bài viết về Phạm Tuấn Diếp (1)

By phuctrinh

Người tốt việc tốt
CHI CỤC ĐÊ ĐIỀU VÀ PHÒNG CHỐNG LỤT BÃO HÀ NỘI

Ở CƯƠNG VỊ NÀO CŨNG NÊU CAO TRÁCH NHIỆM

Về quận Tây Hồ đảm nhận nhiệm vụ Phó Ban thường trực BCH phòng chống lụt bão anh Phạm Tuấn Diếp đã đương đầu ngay với thử thách của mùa lũ 1996. Tiếp đó 1997 anh được giao trực tiếp chỉ đạo tổ chức xử lý sự cố nứt sạt lở rò rỉ nước mái để hữu Hồng trên địa bàn phường Phú Thượng. Năm 1998 anh lại là người lăn lộn tại khu vực bãi Tứ Liên cùng cán bộ các ngành các cấp xử lý khẩn cấp sạt lở bãi sông. Đây là một trong những sự cố nghiêm trọng nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời sẽ đe doạ đến an toàn của cả vùng dân cư rộng lớn. Bây giờ nhắc lại anh chỉ bảo đấy là công việc bình thường của những người làm công tác phòng chống lụt bão. Tuyến đê sông Hồng qua quận Tây Hồ được đánh giá là tuyến đê xung yếu của khu vực nội thành luôn chịu ảnh hưởng trực tiếp của lũ lụt. Chỉ có hơn 7 km đê nhưng chạy qua tới 5/8 phường với 4940 hộ 21.496 nhân khẩu đang sinh sống ngoài đê do vậy nhiệm vụ đặt ra vô cùng nặng nề và có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội. Nhận thức rõ điều đó nên trên cương vị được giao anh đa hoàn thành tốt nhiệm vụ tham mưu cho UBND quận chủ dộng xây dựng kế hoạch phòng chống lụt bão sát thực hiệu quả phù hợp với điều kiện kinh tế dân sinh. Đồng thời anh trực tiếp chỉ đạo triển khai kế hoạch này tới các cơ sở cơ quan xí nghiệp đóng trên địa bàn quận theo đúng chỉ đạo của Thành phố và UBND quận. Điều đáng nói là anh chủ động phối hợp với các phường bám sát từng cụm dân cư từng điếm canh đê theo dõi động viên cơ sở thực hiện các hiện tượng chủ quan lơ là mất cảnh giác cũng như tổ chức liên kết phối hợp giữa các đơn vị về nhân lực phương tiện vật tư sẵn sàng huy động ứng cứu khi có tình huống cấp thiết xảy ra khắc phục ngay từ đầu mọi sự cố đê điều. Là cán bộ phụ trách công tác phòng chống lụt bão lại giữ cương vị trưởng phòng Kinh tế quận nên anh có nhiều điều kiện chủ động đề xuất các giải pháp hạn chế ảnh hưởng của thiên tai lũ lụt như: chỉ đạo các HTX chuyển đổi cơ cấu cây trồng có thời gian sinh trưởng và phát triển phù hợp với đặc điểm ngập lụt của mùa lũ để tăng năng suất với cây trồng góp phần ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân trong quận; đề xuất với UBND quận phương án tổ chức phối hợp với các cơ quan chức năng xử lý các vụ vi phạm Pháp lệnh đê điều Pháp lệnh phòng chống lụt bão góp phần hạn chế các vi phạm hành lang bảo vệ đê; phối hợp với các phường các phòng ban trong quận tổ chức giải phóng mặt bằng để thi công các công trình đê điều bảo đảm tiến độ đạt hiệu quả cao. Từ khi còn công tác tại Công ty Thuỷ nông Đan Hoài Hà Tây đến lúc về nhận nhiệm vụ mới ở quận Tây Hồ anh đã rút ra được những kinh nghiệm hết sức cần thiết trong công tác phòng chống lụt bão. Đó là phải thường xuyên làm tốt việc tuyên truyền nâng cao ý thức tự giác tinh thần trách nhiệm của toàn cộng đồng; công tác chỉ huy phải đồng bộ thông suốt việc triển khai kế hoạch phải kịp thời có sự kiểm tra đôn đốc thường xuyên. Đặc biệt việc tổ chức đánh giá rút kinh nghiệm phải nghiêm túc xác định rõ trách nhiệm của cá nhân trong từng trường hợp cụ thể. Theo anh trong xu thế thời tiết ngày càng diễn biến bất thường thì sự chủ động là rất cần thiết để có thể huy động tối đa sức người sức của tích cực phòng chống hạn chế thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra.

Nguồn: http://www.dedieu-pclb-hanoi.org.vn/nguoitotviectotchitiet.php?nguoitot=28 

More...

Trường Đại học Thuỷ lợi (2)

By phuctrinh

Lời giới thiệu

Trường Đại học Thuỷ lợi thành lập năm 1959 tiền thân là Học viện Thuỷ lợi Điện lực. Trải qua 48 năm xây dựng và trưởng thành Trường Đại học Thuỷ lợi đã khẳng định là một trường đại học đầu ngành của cả nước đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao đáp ứng yêu cầu phát triển ngành Nước và là Trung tâm Khoa học Công nghệ có uy tín về Thủy lợi - Thủy điện Tài nguyên và Môi trường Phòng chống và giảm nhẹ thiên tai. 

 
    Hiện nay trường đã có một hệ thống giảng đường phòng thí nghiệm khu làm việc tương đối khang trang thư viện phòng học chuyên dùng và các thiết bị đáp ứng được nhu cầu của một trường Đại học. Trường hiện có trên 600 cán bộ công nhân viên và giảng viên 100% giảng viên của Trường đạt chuẩn trong đó năm 2006 có 7 giáo sư 45 phó giáo sư 84 Tiến sỹ 173 thạc sỹ. Đã được Nhà nước phong tặng 2 Nhà giáo nhân dân 58 Nhà giáo ưu tú. Mạng lưới cơ sở đào tạo nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ trải rộng từ Bắc tới Nam. Đến nay Trường đã đào tạo cho đất nước gần 20000 kỹ sư 429 thạc sỹ 71 tiến sỹ trong đó có nhiều người đã trở thành chuyên gia đầu ngành những cán bộ chủ chốt ở Trung ương và địa phương. Năm học 2006-2007 trường có hơn 10000 học viên và sinh viên đang theo học với các hệ đào tạo chính quy tại chức cử tuyển với các cấp học dự bị cao đẳng đại học trên đại học chưa kể các lớp bồi dưỡng sau đại học ngắn hạn. Công tác đào tạo được tiến hành tại 3 cơ sở: Cơ sở chính tại Đống Đa – Hà Nội; Cơ sở 2 tại Bình Thạnh Tp. Hồ Chính Minh và Trung tâm ĐH2 tại Phan Rang tỉnh Ninh Thuận.

Trong quan hệ hợp tác Quốc tế Trường đã mở rộng quan hệ hợp tác nghiên cứu và giao lưu với các trường đại học công ty viện nghiên cứu và Chính phủ nhiều nước và tổ chức Quốc tế.

Với những thành tích đạt được Nhà trường đã vinh dự được đón nhận những phần thưởng cao quý do Đảng và Nhà nước trao tặng; Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới năm 2000 Huân chương Hồ Chí Minh năm 2004.

Năm 2006 Chiến lược phát triển Trường giai đoạn 2006 – 2020 của Trường đã được Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phê duyệt. Mục tiêu của Chiến lược là toàn diện đảm bảo mang lại cho cán bộ và giảng viên một môi trường thuận lợi có thể phát huy toàn bộ năng lực và trí tuệ của mình cho sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao tạo cho sinh viên môi trường học tập và nghiên cứu khang trang hiện đại tạo cho sinh viên môi trường học tập và nghiên cứu khang trang hiện đại nhằm không ngừng nâng cao chất lượng với những kiến thức tiên tiến các kỹ năng cần thiết để tiến thân lập nghiệp và sáng nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Phấn đấu trở thành một trong 10 trường Đại học hàng đầu của Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu khoa học chất lượng cao tạo được danh hiệu “Đại học Thuỷ lợi Việt Nam” có uy tín quan hệ quốc tế rộng rãi đa phương đa dạng đủ sức cạnh tranh hợp tác bình đẳng với các nước trên thế giới và chủ động hội nhập.

      Với tinh thần đổi mới Trường Đại học Thủy lợi đang phấn đấu tạo ra những kỳ vọng để bước vào giai đoạn mới - Giai đoạn mang tính bước ngoặt trong lịch sử xây dựng và phát triển của mình để một tương lai không xa có khả năng hợp tác và là một đối tác tin cậy bình đẳng trong khu vực và thế giới.

Nguồn: http://www.wru.edu.vn

More...

Trường Đại học Thủy lợi (1)

By phuctrinh

Lịch sử phát triển


Trải qua 45 năm xây dựng và phát triển trường Đại học Thủy lợi đã phát triển qua các thời kỳ với những nét đặc trưng cơ bản sau...
More...

 

   Trải qua 45 năm xây dựng và phát triển trường Đại học Thủy lợi đã phát triển qua các thời kỳ với những nét đặc trưng cơ bản sau:

1. Giai đoạn 1959-1965         

Học viện Thuỷ lợi Điện lực được thành lập năm 1959 với 3 nhiệm vụ:
Đào tạo kỹ sư kỹ thuật viên và Nghiên cứu khoa học.
Năm 1959 khai giảng lớp chuyên tu đại học khoá 1 có 80 sinh viên tuyển sinh khoá 1 hệ chính quy với 100 sinh viên.
Năm 1961 Nhà trường tổ chức đào tạo tại chức ban đêm.
Tháng 6/1961 lớp Đại học Chuyên tu khoá 1 bảo vệ Đồ án tốt nghiệp.

Tháng 1/1963 chia tách học viện Thuỷ lợi Điện lực ra thành 4 đơn vị là Trung cấp điện Trung cấp Thuỷ lợi Viện Nghiên cứu khoa học Thuỷ lợi và Trường đại học Thuỷ lợi.

Tháng 7/1963 lớp chính quy khoá 1 bảo vệ thiết kế tốt nghiệp.

Năm 1964 chỉ tiêu tuyển sinh tăng lên đến hơn 340 sinh viên. Bước đầu hình thành 3 ngành đào tạo: Thuỷ công Thuỷ nông Thuỷ văn. Các phòng thí nghiệm được lắp đặt: Sức bền vật liệu Thuỷ lực Thuỷ công Thuỷ điện Cơ đất...
1965 nhà hành chính được xây dựng hoàn thành với nhiều phòng học và phòng thí nghiệm phục vụ giảng dạy.

2. Giai đoạn 1965-1975

Tháng 6/1965 trường sơ tán lên vùng núi xã Nghĩa Phương huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang. Các khoá 7 8 9 10 11 tập trung tại Lục Nam Trường làm lễ tốt nghiệp cho các khoá 5 6 7 với gần 1000 kỹ sư.

Ban chấp hành Đoàn cùng lãnh đạo Nhà trường tại nơi sơ tán (Lục Nam – Hà Bắc)

    1970 trở về Hà Nội năm 1972 Trường đi sơ tán lần thứ 2 tại Việt Yên Hiệp Hoà tỉnh Bắc Giang và một số nơi khác. Khoá 14 được tập trung tại Việt Yên và Hiệp Hoà.

Quy mô tuyển sinh 300-400 sinh viên mỗi khoá.

Ngoài các ngành Thuỷ công Thuỷ nông Thuỷ văn nhà trường đã mở thêm một số ngành mới:

Năm 1965 mở ngành Thuỷ điện (khoá 7).
Năm 1966 mở thêm ngành Cơ khí Thuỷ lợi (khoá 8).
Năm 1967 mở thêm ngành Thi công (khoá 9).
Hình thức đào tạo tại chức được mở rộng tuyển sinh hàng năm 100 sinh viên.

3. Giai đoạn 1975-1985

Trường đã sắp xếp tổ chức lại ngành nghề đào tạo theo hướng diện rộng chuyên môn hoá hợp lý bao gồm:

+ Công trình Thuỷ lợi
+ Thuỷ văn và kỹ thuật môi trường
+ Thuỷ năng và Trạm Thuỷ điện
+ Thuỷ nông và Cải tạo đất
+ Cơ khí Thuỷ lợi
+ Kinh tế Thuỷ lợi.

Tháng 6/1984 Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp đã ra Quyết định chính thức phê duyệt chương trình đào tạo được điều chỉnh và thực hiện từ năm 1984.

Những năm 80 do tác động của xã hội chỉ tiêu tuyển sinh hệ chính quy giảm thí sinh thi vào trường ít; nhưng trường đã phát triển số lượng sinh viên hệ tại chức; ngoài đào tạo tại chức tại cơ sở chính của trường trường đã tổ chức mở các lớp tại chức tại các địa phương.

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm Trường và nghe Nhà giáo Anh hùng Lao động Nguyễn Như Khuê báo cáo tại Hội nghị Khoa học kỷ niệm 20 năm thành lập Trường

    Đây là thời kỳ thực hiện công tác kết hợp giảng dạy học tập và NCKH & PVSX trong phạm vi cả nước là bước ngoặt quan trọng của Trường Đại học Thuỷ lợi. Trường đã thành lập các đoàn ĐH1 ở thành phố Hồ Chí Minh ĐH2 ở các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên ĐH3 ở thành phố Cần Thơ với hàng trăm lượt sinh viên năm cuối cùng các giáo viên phục vụ điều tra đánh giá quy họach khai thác sử dụng tổng hợp và quản lý tài nguyên nước cho các tỉnh phía Nam. Đẩy mạnh công tác hoàn chỉnh đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phục vụ công tác thuỷ lợi ở phía Bắc.  

     Trường đã mở các lớp bồi dưỡng sau đại học về Cơ học công trình Kỹ thuật và tổ chức thi công Chỉnh trị sông Thuỷ lực thuỷ văn Quản lý kinh tế... ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.   

Năm 1979 Trường được chính thức công nhận là một cơ sở đào tạo Sau đại học. Sự kiện này đánh dấu một bước chuyển biến mới về chất trong nhà trường. Hoạt động chủ yếu của đào tạo sau đại học trong thời kỳ này là đào tạo Phó tiến sĩ (PTS) đến năm 1984 đã có 6 người bảo vệ thành công luận án PTS.

Đây cũng là giai đoạn Nhà trường phát triển mối quan hệ những mối quan hệ quốc tế có hiệu quả với nhiều trường ở Liên Xô (cũ) với các nước Đông Âu Lào Ấn độ Hà Lan...  

4. Giai đoạn 1985 đến nay

Đây là giai đoạn có nhiều hoạt động cho việc đổi mới sự nghiệp giáo dục Nhà trường đã đạt được một số kết quả:

Đổi mới mục tiêu chương trình đào tạo của nhà trường được dựa trên cơ sở nắm bắt kịp thời những đổi mới về nhận thức đối tương phục vụ. Khái niệm về thuỷ lợi được chuyển dần sang khái niệm khai thác tài nguyên nước với nội dung phục vụ đa dạng tổng hợp hơn và mang tính liên ngành ngoài các ngành đã có như Thuỷ nông Thuỷ công Thuỷ văn Thuỷ điện mà còn Môi trường Cải tạo đất Kinh tế Máy xây dựng và Thiết bị Thuỷ lợi Thuỷ điện ... Từ năm 1985 mục tiêu đào tạo cơ cấu ngành nghề đã được mở rộng và ngày càng hoàn thiện với 7 ngành 9 chuyên ngành.

Năm 1995 với việc sát nhập 3 Bộ: Bộ Nông nghiệp Bộ Lâm nghiệp Bộ Thuỷ lợi đã đưa sự nghiệp phát triển thuỷ lợi nước ta ở một tầm cao mới: Phát triển bến vững trong một môi trường Đất - Nước - Rừng gắn kết hữu cơ với nhau trong một nền nông nghiệp sinh thái. Trường Đại học Thuỷ lợi đã xây dựng chương trình trình hai Bộ duyệt 9 ngành 20 chuyên ngành nhằm phủ kín nội dung hoạt động về kỹ thuật tài nguyên nước ở nước ta. Dù là một trường chuyên ngành nhưng việc đào tạo của nhà trường đã đang bắt đầu mang tính liên ngành đa lĩnh vực.

Trường đã thành lập các khoa mới: Công nghệ thông tin; Mác -Lê-Nin và Kỹ thuật bờ biển. đến nay trường đã có các khoa:

1. Công trình thuỷ lợi
2. Thuỷ văn - Môi trường
3. Quy hoạch và quản lý hệ thống công trình
4. Thuỷ điện
5. Kinh tế thuỷ lợi
6. Máy xây dựng và thiét bị thuỷ lợi
7. Công nghệ thông tin
8. Kỹ thuật bờ biển
9. Mác - Lê -Nin
10. Khoa Sau đại học
11. Khoa Tại chức.

Cơ cấu ngành nghề của trường ngày càng phát triển năm 2004 nhà trường đã ban hành chương trình đào tạo của 9 ngành với 19 chuyên ngành với tổng số giờ là 270 ĐVHT:

1. Công trình Thuỷ lợi
    a. Công trình Thuỷ lợi
    b. Địa kỹ thuật
2. Thuỷ văn - Môi trường
    a.Thuỷ văn và tài nguyên nước
    b. Chỉnh trị sông và bờ biển
    c. Môi trường và quản lý lưu vực
3. Quy hoạch và quản lý hệ thống công trình
    a. Quy hoạch và quản lý hệ thống công trình
    b. Thuỷ lợi cải tạo đất
4. Thuỷ điện
    a. Công trình Thuỷ điện
    b. Quản lý vận hành CTTĐ
5. Kinh tế thuỷ lợi
    a. Kinh tế xây dựng
    b. Kinh tế quản lý khai thác công trình thuỷ lợi
    c. Kinh tế quản lý tài nguyên nước & môi trường
6. Máy xây dựng và thiết bị thuỷ lợi
    a. Máy xây dựng
    b. Thiết bị thuỷ lợi-thuỷ điện
    c. Cơ điện
7. Kỹ thuật bờ biển
    a. Công trình bờ biển
    b. Quản lý tổng hợp vùng bờ
8. Công nghệ thông tin
9. Kỹ thuật cơ sở hạ tầng
10. Cấp thoát nước.

 Công tác hợp tác quốc tế được phát triển mạnh và rộng khắp. Ngoài quan hệ hợp tác truyền thống với các trường ở Liên Xô (cũ) các nước Đông Âu... nhà trường còn hợp tác với nhiều trường đại học và các tổ chức của nước ngoài khác như Mỹ Canađa Anh Pháp Đức Hà Lan Nauy Ấn độ AIT Australia Israel Nhật Hàn quốc Cộng đồng Châu Âu Uỷ ban sông Mekong và một số tổ chức phi chính phủ.
 

GS. TS. Đào Xuân Học phát biểu tại hội nghị Nâng cao chất lượng hoạt động KHCN (2003)

    Quy mô tuyển sinh đại học ngày càng tăng năm 2001 tuyển sinh 1042 sinh viên chính quy và 434 không chính quy năm 2003 tuyển sinh 1184 sinh viên chính quy và 490 sinh viên không chính quy năm học 2004-2005 nhà trường đã tuyển sinh trên 1.200 sinh viên chính quy và trên 600 sinh viên tại chức hệ cử tuyển 40 sinh viên 150 hệ cao đẳng. Đào tạo chính quy hệ cao đẳng tại Trường Đại học Thuỷ lợi ở Hà Nội và cơ sở 2 của Trường tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đào tạo tại chức tại trường Đại học Thuỷ lợi cơ sở 2 của trường ở thành phố Hồ Chí MInh Trung tâm ĐH2 tại tỉnh Ninh thuận và nhiều địa phương trong cả nứơc. Năm 2004 Tổng số sinh viên đại học là 8004 người (chính quy là 5412 người hệ tại chức là 2440 người hệ cử tuyển là 152 người) sinh viên hệ cao đẳng 386 người.


Nguồn:http://www.wru.edu.vn/Gioithieu/Web/Content.aspx?distid=152

More...

Xe tăng chủ lực của Việt Nam -T-54

By phuctrinh

Xe tăng chủ lực của Việt Nam -T-54
31.07.2007 23:48

Xem hình
 

Tương tự như súng AK dòng tăng T-54 là dòng xe tăng phổ biến nhất trên thế giới cho đến đầu thế kỷ 21 rất nhiều nước trên thế giới vẫn còn dùng T-54/55 và vẫn còn tiếp tục cải tiến. Việt Nam là nước sử dụng T-54 từ rất sớm khi nó còn là một trong những xe tăng chủ lực đáng gờm nhất trên thế giới.

T-54 và T-55 là tên gọi một thế hệ xe tăng sản xuất tại Liên Xô và trang bị cho quân đội nước này từ năm 1947 đến 1962. Đây là mẫu xe tăng sản xuất nhiều nhất với tổng số 95.000 xe xuất xưởng (bao gồm cả sản xuất tại nước ngoài với tên gọi khác).



Cách bố trí của T-54 theo kiểu xe tăng quy ước với vũ khí chính gồm một khẩu súng có rãnh xoắn 100mm. T54 được sử dụng nhiều hơn bất kỳ một loại tăng nào khác từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. T-55 gồm một khẩu súng tốc độ cao với nòng súng dài khác thường. T-55 có bánh xích chasis năm bánh với một thân ngắn và tháp pháo hình tròn. Tăng T-54 xuất hiện lần đầu năm 1949 như loại thay thế cho chiếc T-34 thời thế chiến II.



T-54 liên tục được sửa đổi và cải tiến và sau khi đã được sửa khá nhiều nó được đổi tên thành T-55. T-55 ra mắt vào năm 1958 và có đầy đủ mọi sự tinh xảo và cải tiến của serie T-54 mà không có khác biệt căn bản trong thiết kế và hay vẻ ngoài. T-55A xuất hiện đầu thập kỷ 1960. Sự sản xuất loại xe này tiếp tục đến tận năm 1981 ở Liên Xô và cũng được sản xuất ở Trung Quốc (kiểu 59) Tiệp Khắc và Ba Lan.


Một số lượng lớn loại này vẫn còn được sử dụng mặc dù đến thập kỷ 1980 T-54/55 đã bị thay thế bằng loại T-62 T-64 và T-80 trong vai trò loại tăng chủ yếu tại các đơn vị xe tăng và pháo tự hành của Liên Xô. Được sử dụng trong cuộc xâm chiếm Hungary năm 1956 Tiệp Khắc năm 1968 và Syria năm 1970 nó là loại tăng chính của các nước Ả Rập trong cuộc chiến 1967 và 1973 với Israel. Trong thập kỷ 1970 T-54 tham chiến ở Việt Nam Cambodia và Uganda.

Xe tăng hạng trung T-55 chạy bánh xích chasis năm bánh với một khoảng không gian giữa bánh thứ nhất và bánh thứ hai và không có những trục lăn hồi chuyển. Nó có thân ngắn tháp pháo hình vòm nằm bên trên bánh xe thứ ba. Súng chính có rãnh xoắn cỡ 100mm và có một lỗ thoát hiểm ở gần chân nòng. Một súng máy đồng trục A7.62mm và một súng máy 7.62mm di chuyển vòng cung. Các mẫu T-55A về sau này không được trang bị súng đó. T-55 được phân biệt với T-54 vì nó không có vòm ở bên phải và quạt thông gió của tháp pháo được lắp phía trước so với quạt thông gió của T-54 và tất cả các mẫu T-55 đều có một bộ phận tìm kiếm ánh sáng hồng ngoại dành cho pháo thủ lắp bên phải súng chính. Tuy nhiên bộ phận tìm kiếm ánh sáng này không phải là một đặc điểm phân biệt bởi vì nó cũng được trang bị thêm cho nhiều mẫu T-54 và T-54A.

KHẢ NĂNG

T-55 kết hợp một súng tốc độ cao với một chassis rất cơ động một thân ngắn và nòng rất dài. Các cải tiến so với loại T-54 gồm động cơ diesel V12 làm mát bằng nước lớn hơn với 580 sức ngựa so với 520 sức ngựa tăng tầm hoạt động lên 500km (lên tới 715km với hai bình xăng phụ mỗi bình 200 lít). T-55 cũng có hai cái ổn định hai cánh (two-plane) chứ không chỉ có cái ổn định dọc một lần nạp đạn cho súng chính được 43 viên thay vì chỉ 34 viên. T-55 có thể lội qua độ sâu 1.4m mà không cần chuẩn bị trước có thiết bị thông hơi cho phép nó vượt qua độ sâu lên đến 5.5m với tốc độ 2 km/giờ. Thiết bị này cần phải được chuẩn bị trước từ 15 đến 30 phút nhưng có thể được vứt bỏ ngay sau khi ra khỏi nước.

Tất cả các xe T55 đều có hệ thống dò tìm bức xạ PAZ và T-55A cũng có thiết bị chống bức xạ. Một số chiếc T-55 được trang bị một hệ thống bảo vệ tổng thể NBC (lọc không khí và quá áp suất). Một màn khói dày có thể được tạo ra bằng cách phun nhiên liệu diesel bay hơi vào một hệ thống hút khí. Những chiếc T-55 có “áo giáp yếm” áo giáp bán nguyệt lắp thêm có lớp bảo vệ tháp pháo tăng cường lên đến 330mm (KE) và 400-450mm (CE).

Một số cải tiến khác có thể được trang bị thêm gồm một đáy vỏ được tăng cường chống mìn động cơ tốt hơn xích bằng các miếng cao su và ống bọc nhiệt cho súng. Ống nhòm 1K13 vừa dùng để quan sát ban đêm vừa quan sát bệ phóng ATGM; tuy nhiên nó không thể được dùng cho cả hai mục đích cùng một lúc. Các kiểu ống ngắm có thể lựa chọn và hệ thống kiểm soát lửa gồm cả El-Op Red Tiger của Israel và Matador FCS ống nhòm NobelTech T-series của Thuỵ Điển và Atlas MOLF của Đức. SUV-T55A FCS của Nam Tư Marconi Digital FCS của Anh SABCA Titan của Bỉ cho phép nâng cấp hoạt động. Một trong những cái tốt nhất là cái EFCS-3 của Slovenia được tích hợp với FCS. Rất nhiều kiểu ống ngắm nhiệt khác cũng có thể được trang bị. Gồm cả ống ngắm Nga/Pháp ALIS và Namut-type của Peleng. Có nhiều kiểu ống ngắm nhiệt có thể được trang bị cho phép phóng ATGM vào buổi tối. Hệ thống bảo vệ hoạt động tích cực (APS) đầu tiên được gọi là Drozd được phát triển ở Liên Xô giữa 1977 và 1982. Hệ thống này được lắp đặt trên khoảng 250 chiếc T-55A của cả thuỷ và bộ binh (sau đó được đổi tên thành T55AD) vào đầu những năm 1980 và được thiết kế để bảo vệ khỏi ATGM và lựu đạn chống tăng. Nó sử dụng các cảm biến vi sóng radar đầu tiên ở mỗi bên tháp pháo để dò tìm đạn đang bay đến. Một máy lọc bên trong bộ xử lý radar được dùng để đảm bảo rằng hệ thống chỉ phản ứng lại với các mục tiêu đang bay ở tốc độ đặc trưng của ATGM. Những mục tiêu đó sẽ bị một hay nhiều rocket có mang các đầu đạn nhiều mảnh (giống với đạn súng cối) được bắn ra từ bốn ống phóng xung quanh (mỗi phía của tháp pháo có một ống). Drozd chỉ cung cấp sự bảo vệ hướng ra phía trước 600 ở phần tháp pháo hai bên cạnh và phía sau có thể bị tấn công. Kíp lái có thể thay đổi hướng của hệ thống bằng cách quay tháp pháo. Drozd bị tổn hại vì nhiều thiếu sót. Radar của nó không thể xác định đe doạ ở nhiều mức góc nâng một cách thoả đáng và các rocket phòng vệ hầu như chắc chắn gây ra tổn hại ở mức độ không thể chấp nhận được ở hai bên - đặc biệt là đối với bộ binh đi theo.



NHỮNG HẠN CHẾ

T-55 hiệu quả nhất khi chống lại các phương tiện bọc thép nhẹ và trung bình. Đạn nạp căn bản cho súng chính là 43 viên. Các đơn vị nhiên liệu bên ngoài làm cho xe rất dễ bị tổn hại vì nó được bảo vệ bằng vỏ thép mỏng. T-55 có khả năng hạn chế trong việc hạ súng chính gây trở ngại cho xe trong việc bắn tỉa từ trên khu đất cao. Hơn nữa ống ngắm đầu tiên của pháo thủ lại bị gắn với súng chính không cho phép pháo thủ kiếm được các mục tiêu được bố trí dấu kín thân xe. Mặc dù tháp pháo hình nửa quả trứng của T-55 có các tính chất tốt của hình cầu nó cản trở điều kiện làm việc của kíp lái dẫn tới mức độ bắn thấp; và sự bảo vệ nhờ vào thân ngắn của nó (ngắn hơn 1m so với M60) lại làm cho mất thăng bằng vì sự bảo vệ vỏ thép kém của nó so với các tiêu chuẩn phương tây. Theo cùng một tiêu chuẩn thiết bị kiểm soát súng của nó cũng còn thô thiển. Nó cũng có bất lợi của đa phần xe tăng Xô viết là có khả năng kém về hạ thấp nòng chính vì thế không thể có khả năng bắn hiệu quả theo kiểu bắn tỉa mà bắt buộc phải thò cả thân ra để chiến đấu. Vũ khí và nhiên liệu được bố trí ở vị trí kém. Việc thiếu cái rổ tháp pháo làm cho việc nạp đạn khó khăn và vì thế đạn dược sẵn sàng kém. Người lái chỉ huy và pháo thủ tất cả đều trên một hàng. T-55 không kín không khí. Dù các thành viên kíp lái được bảo vệ khỏi bụi phóng xạ bởi một hệ thống lọc họ bắt buộc phải đeo mặt nạ bảo vệ cá nhân và mặc đồ chống chất hoá học và sinh học. Xe tăng vì thế phải đi qua những vùng bị ô nhiễm nhanh chóng và sau đó lại phải được tẩy rửa trước khi hoạt động trở lại. Xe tăng có thể được chế tạo kín nước để vượt qua chướng ngại nước với độ sâu lên đến 1 4m (5 5m với ống thông hơi). Tuy nhiên có thể mất đến nửa giờ để chuẩn bị một đơn vị tăng trung bình để hoạt động được và điểm vào và ra cũng cần được chuẩn bị.


CÁC BIẾN THỂ

Tăng T-54/55 từng được chế tạo với số lượng lớn nhất so với bất kỳ loại tăng nào khác trên thế giới. Sáu kiểu chính đã được sử dụng rộng rãi tại các nước thuộc khối Hiệp ước Warsaw và nhiều nước khác. Các mẫu T-54/55 từng được chế tạo tại Tiệp Khắc và Ba Lan cũng như ở Trung Quốc nơi nó được gọi là Kiểu 59. Hơn mười hai nước đã chế tạo các biến thể cải tiến của T-55 với khả năng bảo vệ và khả năng tấn công gần tương tự. Nhiều nước đã nâng cấp cho nó với súng chính lớn hơn.



* T-54: Có nhiều khác biệt giữa xe T-54 thời kỳ đầu và thời kỳ sau một số chiếc có giáp rộng hơn và tháp pháo bị cắt ngắn ở bên cạnh. Thỉnh thoảng chúng được coi là T-54 (1949) T-54 (1951) và T-54 (1953).

* T-54A: Kiểu này có máy hút khói cho súng 100mm hệ thống ổn định và thiết bị lội sâu.
* T-54AK: Tăng chỉ huy (Kiểu của Ba Lan là T-54AD). Có thêm radio và tầm hoạt động của radio là 100 dặm.

* T-54M: T-54 được nâng cấp theo tiêu chuẩn của T55M.

* T-54B: Kiểu đầu tiên có thiết bị quan sát hồng ngoại ban đêm. Đây là kiểu được sử dụng ở những nước trên.

* T-55: T-54 với tháp pháo mới và nhiều cải tiến các kiểu được chế tạo về sau này có một súng 12.7mm AA MG. Các cải tiến từ kiểu T-54 gồm một động cơ diesel làm mát bằng nước V12 lớn hơn và tầm hoạt động rộng hơn 500 thay vì 400km (600 với các xe tăng bổ trợ). Tầm hoạt động có thể tăng lên đến 715km với hai bình xăng phụ 200 lít ở hai bên xe. T-55 có tháp pháo hoàn toàn khác so với T-54 sự khác biệt dễ nhận thấy nhất là T-55 không có quạt gió nóc và thay vào đó là hai thanh nóc hình chữ D. Các xe T-55 đầu tiên cũng không có máy nạp đạn cho súng 12.7mm DShK AA MG cửa sập của máy nạp đạn hơi thò lên hay không thò lên khỏi xung quanh lớp giáp.

* T-55A được thêm hệ thống bảo vệ NBC. T-55A sử dụng một lớp chống bức xạ mới và hệ thống lọc hoá chất PAZ/FVU được cải tiến trên cùng tháp pháo. Lớp chống bức xạ làm tháp pháo dày hơn và không bằng với bề mặt tháp pháo. Các chi tiết đáng chú ý là sự chải lớn hơn ở cửa của chỉ huy và pháo thủ và một chỗ phồng lớn ở cửa người lái. T-55A Kiểu 1970 bắt đầu có súng 12.7mm nhưng ở vị trí khác với T54.


* T-55AM có thêm vỏ yếm một vỏ bọc quanh tháp pháo và bảo vệ 180°. Sự gọi tên T-55AM thỉnh thoảng cũng dùng cho T-55A với súng 12.7mm DShK MG.


* T-55AM2B: Kiểu T55AMV của người Séc với kiểm soát lửa Kladivo.
* T-55AM2: Biến thể không có khả năng ATGM hay Volna FCS.
* T-55AM2P: Kiểu T55AMV của người Ba Lan nhưng có thêm Merida FCS.
* T-55AMD: Biến thể với Drozd APS thay vì ERA.
* T-55AD Drozd: Biến thể với Drozd chứ không phải Volna FCS và ERA.

T-55AMV Phiên bản AMV cải tiến thay thế ERA cho lớp yếm bảo vệ. Các phiên bản kết thúc với việc thay thế động cơ w/V-46 engine từ chiếc T-72 MBT. Ukraina và Syria sẽ cải tiến theo tiêu chuẩn của T-55AMV.




(Theo wikipedia)
Nguồn: Vietnam Defence- Trang Thông tin KHKT Quân sự và Quốc phòng- http://vndefence.info/modules.php?name=News&op=viewst&sid=193 

More...