“Quê” ơi Trinh đây!

By phuctrinh

“Quê”ơi Trinh đây!
 
Nhận được comment của Nguyễn Khắc Nguyệt xúc động và vui mình chép lại vài dòng trao đổi giữa Nguyệt và Trinh để tìm đường gặp lại các quê và đồng đội tăng chúng mình.
 
Viết bởi Nguyễn Khắc Nguyệt:
05 June 2009 14:44

Xin chào quê Trinh!

Gọi như vậy chắc quê đoán ngay ra chúng ta là đồng đội cùng binh chủng Thép. Xin tự giới thiệu- mình là Nguyễn Khắc Nguyệt nguyên học viên khóa 2 (sau khóa các quê) của T600. Hôm nay tình cờ vào đây mình rất xúc động trước tình cảm và lòng tâm huyết của quê trước binh chủng nhà trường và đặc biệt là những đồng đội bà con xưa. Theo mình đây có lẽ là một đặc điểm chung của lính xe tăng đấy. Nhưng nghĩ cũng tội cho quê- khóa 1 ấy liên lạc với nhau hơi kém. Riêng khóa 2 bọn mình từ năm 89 đến nay cứ 5 năm một lần đại hội. Hôm 17.5 vừa rồi mới gặp nhau kỷ niệm 30 năm TN có 73 anh em về dự- trong đó có 3 chiến sĩ từ TPHCM ra đấy. Quê có nhớ Vương Đắc Long và Nguyễn Văn Dũng- lớp 2DK1 đá bóng rất hay ấy không? Bọn hắn cũng đang ở TPHCM đấy.
Mình không viết blog nhưng hiện nay trên mạng có một cuốn sách của mình. Nếu quê thích đọc thì có thể tìm qua google tên sách là "Hành trình đến dinh Độc Lập". Ngoài ra mình cũng có một tôpic trong "Quân sử Việt Nam" để tán gẫu và nhắc lại những kỷ niệm xưa.
Nếu thích quê có thể vào:
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=6189.0
hoặc http://www.quansuvn.net/index.php?topic=6345.0
 
Chúc quê và gia đình sức khỏe hạnh phúc và mọi sự tốt lành nhé!
 

Viết bởi Phạm Phúc Trinh:
06 June 2009 17:31
 
Chào Nguyệt
 
Trinh xúc động quá nghe tiếng "quê" mà bỗng thấy gai gai từ sống lưng rồi truyền lên óc. Muốn gọi ngay cho quê nhưng chưa có số điện thoại. Cám ơn những tâm tình những thông tin và những tấm ảnh mà quê cung cấp. Quê gửi 3 tấm hình mình đọc được cả 3 (quê gửi 4 lần 1 lần bị trùng). Soi từng tấm một. Không nhận được Long Dũng với cả 2 em nuôi. Có em nào rõ xinh chụp với các anh bên xe tăng cũng không nhận ra thế mới đau-sờ-cau chứ. Nói chung chỉ thấy thoáng một vài nét như thân như sơ trên những gương mặt cùng đội ngũ ngày nào. Ba mươi mấy năm rồi còn gì.
Trinh đã đọc một phần truyện ký "Hành trình đến dinh Độc lập" và "Những mảnh rời ký ức ...". Bạn cho phép mình đưa link các bài viết và ảnh của bạn lên blog của mình nhé để kết nối với đồng đội năm xưa.

Chúc quê và gia đình sức khỏe hạnh phúc.
 
Tạm biệt hẹn gặp quê và đồng đội.

PT

More...

Grand Slam quần vợt

By phuctrinh

Grand Slam quần vợt


Trong môn quần vợt giành được Grand Slam nghĩa là trong cùng 1 năm đoạt chức vô địch cả 4 giải sau:

. Úc mở rộng 
. Pháp mở rộng   
. Wimbledon
. Mỹ mở rộng

4 giải này do đó cũng gọi là các giải Grand Slam và được xem là những giải đấu quan trọng nhất trong năm cả đối với đại chúng khán giả cũng như về điểm xếp hạng và tiền thưởng cho đấu thủ. Các chức vô địch 4 giải cũng được gọi là các danh hiệu Grand Slam.

Giải quần vợt Úc Mở rộng

Địa điểm: Melbourne Úc
Mặt sân: Plexicushion ngoài trời
Tiền thưởng: 23.140.000 AU$

Giải quần vợt Úc Mở rộng (tiếng Anh: Australian Open) là một trong 4 giải Grand Slam quần vợt trong năm. Đây là giải Grand Slam đầu tiên trong năm và diễn ra vào nửa cuối tháng 1 tại Melbourne. Giải được tổ chức bởi Tennis Australia tổ chức thường được biết với cái tên Lawn Tennis Association of Australia (LTAA).

Giải quần vợt Roland-Garros

Địa điểm: Paris Pháp
Mặt sân: Đất nện ngoài trời
Tiền thưởng: 15.264.500 €

Giải quần vợt Roland-Garros (tiếng Pháp: Tournoi de Roland-Garros) hay còn gọi là Giải quần vợt Pháp mở rộng là một trong 4 giải Grand Slam quần vợt trong năm. Đây là giải Grand Slam thứ 2 trong năm và thường diễn ra vào nửa cuối tháng 5 và đầu tháng 6 tại Paris Pháp.

Đây là giải đấu trên mặt sân đất nện lớn nhất thế giới. Nó thường được coi là giải đấu quần vợt danh giá thứ hai sau Wimbledon mặc dù nó được các phương tiện thông tin đại chúng quan tâm hơn rất nhiều so với giải Grand Slam diễn ra trên mặt sân cỏ. Hơn nữa với hầu hết các tay vợt Nam Mỹ và Nam Âu nơi mà quần vợt chủ yếu được chơi trên mặt sân đất nện thì Roland-Garros là giải đấu quan trọng nhất trong năm.

Mặt sân đất nện thường làm giảm tốc độ bóng và làm bóng nảy rất cao vì vậy lối chơi tại Roland-Garros khác xa với ba giải Grand Slam khác. Do đó có không ít các tay vợt huyền thoại như các cựu số 1 thế giới Jimmy Connors Pete SamprasRoger Federer chưa từng một lần giành ngôi quán quân tại đây trong khi có thể vô địch nhiều lần ba giải Grand Slam còn lại. Ngược lại có khá nhiều các tay vợt giành chức vô địch ở Roland-Garros nhưng không thể chiến thắng tại các giải Grand Slam khác. Thi đấu trên mặt sân chậm theo thể thức 5 set thắng 3 không có loạt tie-break ở set cuối cùng Roland-Garros được coi là giải đấu đòi hỏi nền tảng thể lực khắc nghiệt nhất.

Wimbledon

Địa điểm: Wimbledon London Anh
Mặt sân: Sân cỏ ngoài trời
Tiền thưởng: 11.282.710 £

Giải Wimbledon (tiếng Anh: Wimbledon Championships) là sự kiện lâu đời nhất và có uy tín nhất của môn quần vợt. Giải được tổ chức vào khoảng tháng 6 tháng 7 là giải thứ 3 trong hệ thống giải Grand Slam hàng năm sau giải Úc mở rộngPháp mở rộng và trước giải Mỹ mở rộng. Giải tiến hành trong 2 tuần; trong 4 giải Grand Slam đây là giải duy nhất chơi trên sân cỏ. Giải bao gồm các giải đơn nam đơn nữ đôi nam đôi nữ và đôi nam nữ. Bên cạnh đó có giải trẻ gồm đơn nam đơn nữ đôi nam và đôi nữ. Ngoài ra còn tổ chức giải mời đặc biệt dành cho các tay vợt đã giải nghệ: đôi nam từ 35 tuổi trở lên đôi nam từ 45 tuổi trở lên đôi nữ từ 35 tuổi trở lên và giải đôi xe lăn dành cho người khuyết tật chơi trên xe lăn.

Giải quần vợt Mỹ Mở rộng

 

Địa điểm: Flushing New York City Hoa Kỳ
Mặt sân: Sân cứng ngoài trời
Tiền thưởng: 19.600.000 US$

Giải quần vợt Mỹ Mở rộng (tiếng Anh: United States Open) là một trong 4 giải Grand Slam quần vợt trong năm. Đây là giải Grand Slam cuối cùng trong năm và diễn ra vào nửa cuối tháng 8 và đầu tháng 9 tại Thành phố New York Hoa Kỳ.

ST

More...

Ảnh tư liệu về Lực lượng Tăng- Thiết giáp

By phuctrinh

Ảnh tư liệu về Lực lượng Tăng- Thiết giáp
(sưu tầm)

Ảnh 1:

Вождь желтокожих лидер вьетнамской революции Хо Ши Мин приветствует личный состав первой бронетанковой роты армии Северного Вьетнама стоя в кузове кабриолета повышенной проходимости ГАЗ-69. На вооружении роты состояли бронеавтомобили М8 и полугусеничные бронетранспортеры М3. Вся техника вооруженная штатными американскими пулеметами Браунинг М2 калибра 12 7 мм. Личный состав одет в танковые шлемофоны советского образца и вооружен пистолетами-пулеметами ППС-43.

Lãnh tụ của cách mạng Việt Nam- Hồ Chí Minh đứng trên xe chỉ huy dã chiến Gaz-69 duyệt chào cán bộ chiến sĩ thuộc đại đội thiết giáp đầu tiên của quân đội Miền Bắc Việt Nam. Khí tài của đại đội thiết giáp này gồm xe chiến đấu bọc thép M8 và xe chở quân bọc thép bán xích M3 được trang bị vũ khí chính là loại trọng liên Bờ-rao-ninh M2 cỡ nòng 12 7 ly của Mỹ. Các chiến sĩ đội mũ công tác gắn máy nội đàm của lính tăng Xô-viết và được trang bị súng tiểu liên PPS-43.




Ảnh 2:

Первый в армии ДРВ танковый полк - 202-й - был сформирован 5 октября 1959 г. На вооружении полка состояли танки Т-34-85 и самоходные артиллерийские установки СУ-76. На снимке - тренировка механиков-водителей танков Т-34-85

Trung đoàn tăng đầu tiên của Quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Trung đoàn 202 được thành lập vào ngày 5/10/1959 với biên chế vũ khí là xe tăng T-34-85 và pháo tự hành SU-76. Trên hình là khoa mục đào tạo lái xe tăng T-34-85.



Ảnh 3:

Рост бронетанковых сил северовьетнамской армии в 1959 г. одновременно сопровождался качественным и количественным улучшением средств борьбы с танками. В опасении вторжения с Юга в составе армии Северного Вьетнама было сформировано несколько противотанковых артиллерийских батальонов вооруженных германскими 75-мм противотанковыми орудиями РаК-40 времен Второй мировой войны. Такие пушки в огромных количествах были захвачены в 1945 г. Красной Армией а теперь Советский Союз предоставил их вьетнамскому народу для защиты от возможной агрессии с Юга. Снимок орудий РаК-40 сделан на параде в Ханое в 1960 г.

Việc phát triển lực lượng tăng thiết giáp quân đội Miền Bắc trong năm 1959 được tiến hành đồng thời với việc tăng cường cả số lượng và chất lượng các khí tài chiến đấu chống xe tăng. Nhằm đối phó với mối đe dọa xâm lược từ Miền Nam lực lượng quân đội Miền Bắc Việt Nam thành lập một số tiểu đoàn pháo chống tăng trang bị loại pháo chống tăng PAK-40 cỡ nòng 75 ly của Đức thời Chiến tranh Thế giới thứ 2. Năm 1945 Hồng quân Liên Xô thu giữ được số lượng lớn loại pháo này và nay Liên Xô chuyển sang cho nhân dân Việt Nam để chống lại khả năng bị xâm lược từ Miền Nam. Trên ảnh là pháo PAK-40 (Buff: do xe GAZ-63 kéo) tham dự duyệt binh tại Hà Nội vào năm 1960.



Ảnh 4:

В 1966 г. после печально знаменитого Тонкинского инцидента северовьетнамцы стали готовиться к отражению агрессии со стороны США. На побережье были развернуты позиции артиллерийских противотанковых батарей личный состав которых готовился сорвать высадку десанта. На снимке - огневая позиция 57-мм противотанкового орудия ЗиС-3 советского производства на пляже недалеко от 17-й параллели которая делила Вьетнам на Северный и Южный.

Năm 1966 sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ đáng tiếc Miền Bắc Việt Nam tiến hành chuẩn bị cho việc đánh bại một cuộc xâm lược do Mỹ phát động. Các trận địa pháo chống tăng được đặt dọc bờ biển và pháo thủ được huấn luyện chống đổ bộ. Trên hình là trận địa của một khẩu pháo chống tăng ZIS-3 57 ly do Liên Xô chế tạo được đặt cách không xa Vĩ tuyến 17 phân chia Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam.
Lời bình của Buff: Tác giả hoặc người đặt lời bình bức ảnh đã nhầm lẫn giữa loại pháo và cỡ nòng. Trên hình đúng là loại pháo chống tăng cỡ nòng 57 ly nhưng là ZIS-2 chứ không phải ZIS-3. Nhà máy quân khí Stalin chế tạo 2 loại pháo có hình dáng tương tự nhưng khác cỡ nòng là ZIS-2 và ZIS-3 trong đó ZIS-2 cỡ nòng 57 ly dùng chống tăng còn ZIS-3 cỡ nòng 76 2 ly là dã pháo dùng cho cả nhiệm vụ chống tăng và trang bị cho cấp sư đoàn.



Ảnh 5:

Помимо обычных средних танков Т-34-85 и Т-54 СССР предоставил Вьетнаму легкие плавающие танки ПТ-76 и гусеничные бронетранспортеры БТР-50ПК. На снимке - танки ПТ-76 и бронетранспортеры БТР-50ПК из 198-го бронетанкового батальона 202-го танкового полка. 28 января 1968 г. этот батальон атаковал укрепленный пост Ланг Вей район Кхе Сань который обороняли американские зеленые береты. То был первый случай использования бронетехники против американских подразделений. На башнях некоторых танков ПТ-76 установлены 12 7-мм пулеметы ДШК.

Bên cạnh các loại tăng chủ lực như T-34-85 và T-54 Liên Xô còn viện trợ cho Việt Nam loại tăng lội nước hạng nhẹ PT-76 và xe thiết giáp bánh xích chở quân BTR-50PC. Trên hình là đội hình tăng PT-76 và xe thiết giáp chở quân BTR-50PC của Tiểu đoàn 198 Trung đoàn tăng 202. Ngày 28/1/1968 tiểu đoàn này đã tấn công cứ điểm Làng Vây tại khu vực Khe Sanh do quân mũ nồi xanh Mỹ đồn trú. Đây là lần đầu tiên lực lượng tăng thiết giáp được sử dụng để tấn công một lực lượng dưới cấp sư đoàn của Mỹ. Trên tháp pháo một số xe tăng PT-76 có gắn khẩu đại liên 12 7 ly DShK.



Ảnh 6:

Танк (возможно Т-54 или «Тип 59») 202-го танкового полка армии ДРВ 1972 г.
Chiếc tăng (có thể là T-54 hoặc "Kiểu 59") của Trung đoàn tăng 202 Quân đội VNDCCH chụp năm 1972.



Ảnh 7:

Линейка танков 202-й бригады северовьетнамской армии перед сражением за г.Анлок апрель 1972 г.
Dãy tăng của Lữ đoàn 202 quân đội Bắc Việt trước giờ xung trận An Lộc tháng 4/1972.




Ảnh 8:

Северовьетнамские танкисты вместе с пехотинцами расположились на башне танка (возможно Т-54 или «Тип 59») г. Сайгон апрель 1975 г.

Lính tăng và bộ binh Miền Bắc Việt Nam trên tháp pháo xe tăng (có thể là loại T-54 hoặc kiểu T-59 của Trung Quốc) tại Sài Gòn vào tháng 4/1975.



Ảnh 9:

Коллапс II-го корпуса армии Южного Вьетнама в Центральном Нагорье привел к катастрофе сайгонского режима во всей северной части республики Вьетнам. В конце марта 1975 г. паника царила на улицах городов Хюэ и Дананг. Эвакуация морем из Дананга обернулась всеобщим хаосом. Быстрое падение Дананга стало неожиданным даже для командования армии Северного Вьетнама. Части 2-го армейского корпуса армии ДРВ получили приказ стремительным маршем выйти к Данангу и захватить город вместе с близлежащими военными базами. Командование корпуса не успело подготовить к маршу 203-ю танковую бригаду. В тот период выступить смогли только батальоны приданного фронту Куанг Три Тиен 574-го танкового полка. 17 марта 1975 г. танки Т-54Б из 574-го полка вступили на улицы Дананга танкисты не встретили никакого сопротивления.

Sự tan rã của Quân đoàn 2 quân đội Miền Nam trên Cao nguyên Trung phần kéo theo thảm bại cho chính quyền Sài Gòn tại toàn bộ phần phía Bắc của Việt Nam Cộng hòa. Cuối tháng 3/1975 không khí hoảng loạn bao trùm các ngả đường tại hai thành phố Huế và Đà Nẵng. Việc di tản đường biển từ Đà Nẵng hoàn toàn tê liệt trong hỗn loạn. Sự sụp đổ nhanh chóng của Đà Nẵng nằm ngoài tính toán của Bộ tư lệnh quân đội Bắc Việt. Các đơn vị của Quân đoàn 2 quân đội VNDCCH nhận lệnh nhanh chóng hành quân tới tiếp quản thành phố và các căn cứ quân sự xung quanh. Bộ tư lệnh Quân đoàn không đủ thời gian để tung Lữ đoàn tăng 203 vào trận mà chỉ kịp điều động Trung đoàn tăng 574 lúc đó đang phối thuộc cho mặt trận Quảng Trị - Thừa Thiên. Ngày 17/3/1975 những chiếc tăng T-54B của Trung đoàn 574 đã lăn xích trên các đường phố Đà Nẵng mà không gặp bất kỳ sự kháng cự nào.



Ảnh 10:

Танки Т-34-85 и Т-54 из 202-го танкового полка на учениях ДРВ. На ранней стадии конфликта доктриной северовьетнамской армии не предусматривалось массированное использование танков. Танки в силу их небольшого количества предусматривалось использовать лишь как средство усиления пехотной атаки на открытой местности и для действий против фортификационных сооружений.

Nhóm xe tăng T-34-85 và T-54 thuộc Trung đoàn tăng 202 VNDCCH đang diễn tập hiệp đồng. Trong giai đoạn đầu của cuộc chiến quân đội Miền Bắc không sử dụng chiến thuật đội hình xe tăng tập trung (Buff: chiến thuật tăng bầy). Do số lượng ít xe tăng chỉ được dùng làm phương tiện yểm trợ hoả lực cho bộ binh trên đồng trống hoặc dành tiêu diệt hoả điểm.




Ảnh 11:

Отработка самостоятельных действий без взаимодействия с пехотой экипажами танков Т-34-85 Т-54 и Т-54А из 202-го танкового полка. Согласно наставлениям укрепленные огневые точки противника танки атаковали без поддержки пехоты на большой скорости ведя огонь с ходу и с коротких остановок. Тактика оказалась порочной за эту ошибку северовьетнамские танкисты заплатили кровью в 1971 г. в Лаосе и в 1972 г. в Южном Вьетнаме.

Nhóm tăng T-34-85 T-54 và T-54A của Trung đoàn tăng 202 hành tiến độc lập không phối hợp với bộ binh. Theo cẩm nang nhóm tăng dùng tốc độ xung phong không kèm bộ binh xạ kích trong hành tiến hoặc dừng ngắn để tấn công các hoả điểm của đối phương. Đây té ra lại là một chiến thuật sai lầm dẫn tới lực lượng tăng Bắc Việt phải trả giá bằng máu của chính mình trong các năm 1971 ở Lào và 1972 ở Miền Nam Việt Nam.



Ảnh 12:

Батарея зенитных бронетранспортеров БТР-40А на учениях. Все машины оснащены радиостанциями но вьетнамцы предпочитали отдавать команды сигнальными флажками. На бортах бронетранспортеров написаны патриотические лозунги.

Khẩu đội xe bọc thép phòng không BTR-40A đang luyện tập. Mặc dù các xe được trang bị điện đàm nhưng người Việt lại thích dùng cờ lệnh hơn. Trên thành xe bọc thép có viết các khẩu hiệu yêu nước.




Ảnh 13:

В 1969 г. зенитно-артиллерийские части армии Северного Вьетнама начали получать бронетранспортеры БТР-40А - модификация бронетранспортера БТР-40 вооруженная спаренной 14 5-мм пулеметной установкой ЗПУ-2. На снимке - два бронетранспортера БТР-40А на огневой позиции рядом - командирская машина оснащенная оптическими приборами наблюдения. На головах зенитчиков одеты каски советского и китайского образца.

Năm 1969 các đơn vị pháo phòng không của quân đội Miền Bắc Việt Nam tiến hành tiếp nhận các xe bọc thép BTR-40A (phiên bản của xe bọc thép chở quân BTR-40) trang bị súng ZPU-2 cỡ nòng 14 5 ly. Trên ảnh là 2 chiếc xe bọc thép BTR-40A đang trong tư thế xạ kích chiếc kế bên là xe chỉ huy được trang bị khí tài trinh sát quang học. Lính phòng không đội mũ sắt kiểu Xô-viết và Trung Quốc.




Ảnh 14:

В 1965 г. Ханой получил дополнительное военное имущество и технику из Советского Союза в том числе впервые во Вьетнам были поставлены танки Т-54. Танки Т-54 поступили на вооружение 202-го полка причем в полку остались на вооружении танки Т-34-85. Снимок техники 202-го танкового полка сделан во время учений - отработка марша по пересеченной местности.

Trong năm 1965 Hà Nội tiếp nhận đợt bổ sung khí tài và trang bị kỹ thuật quân sự từ Liên Xô trong đó có loại tăng T-54 lần đầu tiên được viện trợ cho Việt Nam. Đợt xe tăng T-54 này được trang bị cho Trung đoàn tăng 202 bên cạnh loại xe tăng T-34-85 trang bị trước đó. Trên hình là các phương tiện chiến đấu của Trung đoàn tăng 202 đang luyện tập vượt địa hình phức tạp.




Ảnh 15:

Легкие гусеничные артиллерийские тягачи АТ-Л полевой ремонт где-то в Лаосе недалеко от базы американской морской пехоты в Кхе Сань январь 1968 г. В кузове переднего тягача смонтирован небольшой кран с помощью которого меняют двигатель на втором тягаче. Тягачи - поздней постройки с новыми более широкими опорными катками. Тягач АТ-Л обладал тяговым усилием в 6 т и мог перевозить в кузове груз массой до 2 тонн.

Xe kéo pháo bánh xích hạng nhẹ AT-L đang được sửa chữa trên chiến trường tại một địa điểm trên đất Lào cách không xa căn cứ của lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ ở Khe Sanh vào tháng 1/1968. Trên thùng chiếc xe thứ nhất có gắn chiếc cẩu nhỏ dùng hỗ trợ công việc thay máy của chiếc thứ hai. Các xe kéo đời sau được thiết kế với bánh xích kiểu mới và lớn hơn. Xe kéo AT-L có lực kéo 6 tấn và có thể chuyên chở khối lượng 2 tấn trên thùng xe.



Ảnh 16:

Щитом от воздушных атак в первые дни наступления «Нгуен Хюэ» служила плохая погода. Как только облачность рассеялась в полную силу заработала американская и южновьетнамская авиация. На снимке - колонну танков Т-54 сопровождают две ЗСУ-57-2.

Thời tiết xấu trong những ngày đầu của chiến dịch Nguyễn Huệ đã ngăn cản các phi vụ không kích. Tới khi trời quang mây tạnh Không lực Mỹ và không lực Miền Nam huy động tổng lực bắt đầu tham chiến. Trên hình là đội hình tăng T-54 được 2 xe phòng không tự hành ZSU-57-2 hộ tống.




Ảnh 17:

На заключительном типе операции Хо Ши Мин северяне впервые использовали новейшие и лучшие в мире ЗСУ-23-4 «Шилка». В то время в боевых действиях могла принять участие единственная батарея этих самоходок из 237-го зенитно-артиллерийского полка.

Giai đoạn cuối Chiến dịch Hồ Chí Minh quân Miền Bắc lần đầu tiên tung vào trận những chiếc xe phòng không tự hành kiểu mới và hiện đại nhất thế giới loại ZSU-23-4 Shilka. Tại thời điểm chiến sự đó Trung đoàn pháo phòng không 237 chỉ kịp điều một khẩu đội (đại đội) loại pháo phòng không tự hành kiểu này tham gia xung trận.




Ảnh 18:

Три бронетранспортера БТР-40А вооруженных зенитками в патруле на шоссе в окрестностях приморского города Ня Транг начало апреля 1975 г. Бронетранспортеры БТР-40 в зенитном варианте часто использовались в разведывательных подразделениях танковых полков.

Ba xe bọc thép chở quân BTR-40A trang bị súng phòng không đang tuần tra trên tuyến quốc lộ khu vực phụ cận thành phổ biển Nha Trang vào đầu tháng 4/1975. Xe bọc thép chở quân BTR-40 phiên bản phòng không thường được biên chế vào phân đội trinh sát của các trung đoàn xe tăng.




Ảnh 19:

Бронетранспортеры БТР-40А часто привлекались для обеспечения ПВО автоколонн на маршах по тропе Хо Ши Мина. Скорострельные с мощными пулями 14 5-мм пулеметы оказались весьма эффектным средством борьбы с низколетящими воздушными целями. На снимке - замаскированный ветками БТР-40А на заднем плане - грузовики ГАЗ-63.

Xe bọc thép chở quân BTR-40A thường được dùng vào nhiệm vụ phòng không cho xe vận tải chạy trên tuyến đường Hồ Chí Minh. Súng máy bắn nhanh cỡ nòng 14 5 ly là phương tiện chiến đấu rất hiệu quả chống lại máy bay bay thấp. Trên hình là xe BTR-40A cắm lá nguỵ trang và phía sau là những chiếc xe vận tải GAZ-63.




Ảnh 20:

В ходе операции «Лам Сон 719» южновьетнамцы пытались перерезать тропу Хо Ши Мина. Тогда впервые северовьетнамцы использовали танки Т-54. На снимке - Т-54 и Т-54А из 202-го танкового полка переброшенные в Лаос. В боях с южновьетнамцами приняли участие не менее трех батальонов танков Т-54 и ПТ-76 приданных армейскому корпусу 70В. Северовьетнамские танкисты заставили убраться южновьетнамцев обратно в Южный Вьетнам.

Trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719" quân Miền Nam cố gắng chặt đứt tuyến đường Hồ Chí Minh. Đây cũng là lần đầu tiên loại xe tăng T-54 của quân đội Miền Bắc Việt Nam xung trận. Trên hình là đội hình tăng T-54 và T-54A của Trung đoàn xe tăng 202 được điều sang Lào. Trong các trận đánh với quân Miền Nam không dưới 3 tiểu đoàn tăng T-54 và PT-76 được phối thuộc tham chiến trong đội hình Quân đoàn 70B (Buff: Bộ tư lệnh Mặt trận đường 9). Lực lượng tăng Bắc Việt đã đẩy lùi quân Miền Nam trở về lãnh thổ Nam Việt Nam.




Ảnh 21:

Танки Т-34-85 из 202-го танкового полка 1971 г. На снимке - модернизированные в 1960-е годы «тридцатьчетверки» с опорными катками от Т-55. На некоторых машинах установлены активные ИК приборы ночного видения ФГ-100. Простые и надежные Т-34-85 эксплуатировались в армии Северного Вьетнама до самого конца войны. «Тридцатьчетверки» использовались в армии Вьетнама еще долгие годы после окончания войны в качестве учебных.

Những chiếc xe tăng T-34-85 của Trung đoàn tăng 202 vào thời điểm năm 1971. Trên hình là những chiếc T-34 được hiện đại hoá trong thập niên 1960 với việc sử dụng bánh xích xe tăng T-55. Một số xe được gắn kính ngắm hồng ngoại nhìn đêm FG-100. Loại xe tăng T-34-85 đơn giản và dùng bền này được quân đội Miền Bắc sử dụng tới cuối cuộc chiến và thậm chí còn lâu hơn cho công tác huấn luyện.




Ảnh 22:

Для защиты от авиации на крышах башен танков Т-34-85 вьетнамцы установили пулеметы ДШК. Огонь из пулемета можно было вести только стоя на крыше моторно-трансмиссионного отделения танка - очень уязвимая позиция для танкиста. Интересный момент - на этом танке стоят опорные катки минимум трех типов два катка - периода Великой Отечественной войны и один - от танка Т-55.

Trên tháp pháo xe tăng T-34-85 có gắn đại liên DShK dùng vào mục đích phòng không. Để tác xạ khẩu súng này xạ thủ của xe phải phơi mình ở một vị trí nguy hiểm trên nắp khoang động cơ phía ngoài xe. Có một chi tiết thú vị là chiếc tăng này được lắp ít nhất 3 loại bánh xích: 2 bánh truyền động có từ thời Thế chiến 2 và 1 bánh truyền động của xe tăng T-55.




Nguồn: http://www.otvaga2004.narod.ru
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=4357.0

More...

Khởi động các dự án mới

By phuctrinh


Khởi động các dự án mới


Ngày 20/4/2009
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã có Quyết định giao nhiệm vụ quản lý và tổ chức thực hiện Dự án Chống ngập úng khu vực thành phố Hồ Chí Minh theo Qui hoạch thủy lợi chống ngập úng khu vực thành phố Hồ Chí Minh đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Theo đó Ban Quản lý Đầu tư và Xây dựng Thủy lợi 9 sẽ nâng cao năng lực quản lý dự án và làm chủ đầu tư các dự án công trình cống Mương Chuối cống Kinh Lộ (Rạch Giồng) và cống Thủ Bộ thuộc Dự án.

Ngày 07/5/2009 một dự án mới khác Dự án Nạo vét Sông Chùa tại Bình Thuận và Bà Rịa Vũng Tàu do Ban Quản lý Đầu tư và Xây dựng Thủy lợi 9 làm chủ đầu tư đã bắt tay vào Khảo sát lập dự án đầu tư xây dựng công trình. Đơn vị thực hiện việc lập dự án đầu tư là Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam với thời gian hoàn thành dự kiến là 140 ngày.

PT

More...

Khổng Tử mấy mươi năm cuộc đời

By phuctrinh

Khổng Tử mấy mươi năm cuộc đời
"Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân" (己 所 不 欲勿 施 於 人 - cái gì mình không thích thì đừng làm cho người khác)
 
 
Câu nói của Khổng Tử mà học trò ông ghi lại trong Luận ngữ như sau:

“Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học tam thập nhi lập tứ thập nhi bất hoặc ngũ thập nhi tri thiên mệnh lục thập nhi nhĩ thuận thất thập nhi tòng tâm sở dục bất du củ"

Nghĩa là: "Ta mười lăm tuổi để hết tâm trí vào việc học ba mươi tuổi tự lập thân bốn mươi tuổi không nghi hoặc điều gì năm mươi tuổi biết mệnh trời sáu mươi tuổi nghe lời người là hiểu được bẩy mươi tuổi muốn điều gì là tùy tâm mình mà không vượt ra khuôn phép quy củ".

Có thể nói tiểu sử trên là mô hình lý tưởng về sự thành đạt của con người. Ngày nay người ta thường viện dẫn câu nói trên để nói về mục tiêu kết quả tu dưỡng phát triển của con người gắn với từng giai đoạn như sau:
 
"Thập hữu ngũ nhi chí vu học" ( ? ) - nghĩa là 15 tuổi thì để hết tâm trí vào việc học; nói cách khác thiếu thời cần tập trung vào việc tu dưỡng xác định chí hướng và tích lũy kiến thức.
 
"Tam thập nhi lập" (三十而立) - 30 tuổi lập thân lập nghiệp - đã trụ vững có nghề nghiệp việc làm có khả năng nuôi sống bản thân và gia đình đã xác định vị trí của mình trong xã hội.
 
"Tứ thập nhi bất hoặc" (四十而不惑) - 40 tuổi không còn mê hoặc đến tuổi này thì đã chín chắn lịch duyệt; có kiến thức và kinh nghiệm phong phú nên đối với những việc diễn ra trong xã hội có chính kiến rõ ràng kiên định không còn nghi ngờ (bất hoặc).
 
"Ngũ thập nhi tri thiên mệnh" (五十而知天命) - 50 tuổi thì biết rõ sứ mệnh của mình; đã nắm vững quy luật tự nhiên và xã hội biết được xu thế của thời cuộc nên công việc thường thuận lợi và dễ dàng đi đến thành công.
 
"Lục thập nhi nhĩ thuận" (六十而耳順) - 60 tuổi thì không còn chướng tai gai mắt; do lý giải đúng căn nguyên của mọi việc diễn ra xung quanh và thấu hiểu nhân tình thế thái nên dễ thông cảm và có thái độ khoan dung hơn - nhìn sự việc không còn thấy chướng tai gai mắt (thuận nhĩ); không như tuổi trẻ hiểu biết còn nông cạn nên trước nhiều sự việc thường cảm thấy khó chịu bực mình.
 
"Thất thập nhi tòng tâm dục bất du cửu" (七十而從心欲,不踰矩) - Tới tuổi 70 cổ lai hy thì đạt đến cảnh giới đắc đạo tâm tính và đạo đã hợp nhất mọi thứ đã thành bản năng nên nghĩ gì hay làm gì cũng đều hợp đạo chẳng vi phạm phép tắc (bất du cửu = không vượt ra ngoài quy tắc).
 
(Sưu tầm)

More...

field visit 6 March 2009

By phuctrinh

field visit 6 March 2009

Hôm qua đi thực địa cùng Jan Timmerman chuyên gia an toàn đập của WB. Tối về mình mệt phờ lăn quay ra ngủ vậy mà anh ấy vẫn khỏe gửi mail và ảnh cho mình:

Dear Trinh

Please find attached the photopgraphs made today March 6 2009 (and one made in nov 2007) on Dau Tieng dam.
Thanks for showing us around and good luck with finishing the project.

Kind regards
Jan Timmerman 


More...

Lịch sử ngày Quốc tế phụ nữ 8-3

By phuctrinh

Lịch sử ngày Quốc tế phụ nữ 8-3

Ngày 8 tháng 3 năm 1857 nữ công nhân ngành dệt  tại Thành phố New York nước Mỹ đã đứng lên đấu tranh chống lại chế độ trả lương rẻ mạt giờ giấc làm việc không hạn định của giới chủ đòi tăng lương giảm giờ làm. Hai năm sau cũng trong tháng 3 các nữ công nhân Mỹ trong hãng dệt thành lập công đoàn (syndicat) đầu tiên và đã giành được một số quyền lợi.

50 năm sau ngày 8 tháng 3 năm 1908 15.000 phụ nữ diễu hành trên các đường phố New York để đòi được giảm giờ làm việc lương cao hơn và hủy bỏ việc bắt trẻ con làm việc. Khẩu hiệu của họ là "Bánh mì và Hoa hồng" (Bread and Roses). Bánh mì tượng trưng cho bảo đảm kinh tế gia đình hoa hồng tượng trưng cho đời sống tốt đẹp hơn.

More...

Một phát hiện mới đây

By phuctrinh

Một phát hiện mới đây

Hôm nay may quá bắt được tấm ảnh quí giá này nó bị kẹt trong một góc HDD trước tìm mãi không thấy. Mừng quá post lên bổ sung cho bài: Báo chí  đưa tin về một số giải tennis lớn.

GIẢI QUẦN VỢT DỰ ÁN PHÁT TRIỂN THỦY LỢI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Kết quả thi đấu hạng A trên 45 tuổi:
Giải Nhất: Lê Trung Thành và Phạm Phúc Trinh

More...

Sách mới: 3D COMPUTER GAME PROGRAMMING

By phuctrinh

Sách mới: 3D COMPUTER GAME PROGRAMMING

Hải Nam tham gia biên soạn cuốn giáo trình 3D COMPUTER GAME PROGRAMMING Third Edition với các giáo sư: Edmond C. Prakash và Hock Soon Seah ở NTU
và mới gửi link cho bố Trinh hình bìa cuốn sách-
innorevo (2/24/2009 10:13:04 AM): con gửi bố hình con chụp quyển sách
Rất vui mừng giới thiệu với bạn bè:


More...

Ngày Valentine

By phuctrinh

Ngày Valentine

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

 

Ngày Valentine (Valentine s Day Saint Valentine s Day còn gọi là ngày lễ tình yêu hay ngày lễ tình nhân) là ngày được đặt tên theo thánh Valentine là ngày thế giới tôn vinh tình yêu đôi lứa tình cảm giữa các đôi tình nhân và bạn bè khác phái họ bày tỏ tình yêu của mình bằng cách gửi cho nhau thiệp Valentine hoa hồng sô-cô-la và một số loại quà tặng đặc biệt khác có nhiều ý nghĩa .

Trước đây ngày Valentine là ngày lễ chỉ ở Bắc MỹChâu Âu nhưng ngày nay nó được phổ biến ở hầu hết các quốc gia.

Ảnh trên: Kẹo sô-cô-la ngày Valentine

More...